T3 20/10/2026 · No. 150

Tín dụng khơi thông tiềm năng nuôi biển công nghệ cao, mở đường cho kinh tế biển An Giang

Tín dụng khơi thông tiềm năng nuôi biển công nghệ cao, mở đường cho kinh tế biển An Giang

Từ lợi thế biển đến bài toán nguồn vốn

Tỉnh An Giang sở hữu vùng biển rộng khoảng 63.000km², đường bờ biển phần đất liền dài hơn 200km cùng hơn 140 đảo lớn, nhỏ. Đây là nền tảng thuận lợi để phát triển thủy sản, du lịch biển đảo, vận tải biển và các ngành kinh tế mới. Trong đó, nuôi biển công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao được xác định là một hướng đi quan trọng nhằm nâng giá trị sản xuất, giảm áp lực khai thác ven bờ và mở rộng không gian phát triển kinh tế biển.

Quy mô sản xuất hiện tại cho thấy tiềm năng đáng kể. Toàn tỉnh có khoảng 5.500 lồng bè nuôi cá biển, sản lượng khoảng 6.000tấn/năm; diện tích nuôi nhuyễn thể khoảng 25.000ha, sản lượng hơn 113.000tấn/năm. Nghề nuôi biển không chỉ cung cấp nguyên liệu cho chế biến, xuất khẩu mà còn tạo việc làm, thu nhập cho người dân ven biển, hải đảo.

Tuy nhiên, đằng sau những con số ấy là bài toán chuyển đổi mô hình sản xuất. Nuôi biển còn phổ biến theo phương thức truyền thống, quy mô nhỏ lẻ; lồng bè gỗ hạn chế khả năng chống chịu trước thời tiết bất lợi. Rủi ro môi trường, dịch bệnh, khan hiếm con giống và thị trường tiêu thụ thiếu ổn định khiến người nuôi khó tích lũy, càng khó mạnh dạn đầu tư công nghệ mới.

Trong khi đó, chuyển sang lồng nhựa HDPE, hệ thống giám sát môi trường, quy trình nuôi tiên tiến hay mô hình nuôi biển quy mô công nghiệp đều đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn, thời gian thu hồi vốn dài. Nếu thiếu nguồn tín dụng phù hợp, người nuôi khó thoát khỏi vòng luẩn quẩn vốn mỏng – công nghệ thấp – rủi ro cao; doanh nghiệp cũng thiếu động lực đầu tư vào những dự án có thời gian hoàn vốn kéo dài.

Bởi vậy, vấn đề không chỉ là tăng lượng vốn cho vay, mà là thiết kế dòng vốn tương thích với đặc thù kinh tế biển.

1785670155490_96648429579384322_96648429579384322_4b5838790ec41fb07f939aeb8febabcb.jpg
Tín dụng khơi thông tiềm năng nuôi biển công nghệ cao, mở đường cho kinh tế biển An Giang

Bức tranh tín dụng trên địa bàn cho thấy nguồn lực tài chính đang được duy trì ở quy mô lớn. Số liệu báo cáo từ Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực 15 cho thấy, đến cuối tháng 9/2026, dư nợ tín dụng của An Giang đạt khoảng 282.851 tỷ đồng theo bảng thống kê, tăng 3,82% so với cuối năm 2025. Trong đó, dư nợ lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản đạt 61.954 tỷ đồng, tăng 7,81%; công nghiệp và xây dựng đạt 35.657 tỷ đồng, tăng 10,72%; thương mại và dịch vụ đạt 185.241 tỷ đồng, tăng 1,35%.

Đáng chú ý, tín dụng dành cho nông nghiệp, nông thôn tiếp tục giữ vai trò quan trọng. Đến cuối tháng 9/2026, dư nợ theo chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn tại An Giang đạt 149.240 tỷ đồng, tăng 4,20% so với cuối năm 2025, chiếm 52,8% tổng dư nợ toàn tỉnh. Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông, lâm, thủy sản ghi nhận doanh số giải ngân 25.386 tỷ đồng, phục vụ 9.287 lượt khách hàng vay; dư nợ đạt 8.886 tỷ đồng.

Những con số này cho thấy hệ thống ngân hàng đang có vai trò đáng kể trong cung ứng vốn cho khu vực sản xuất. Tuy nhiên, để phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế biển hiện đại, cần đi thêm một bước: chuyển từ tư duy cấp vốn theo từng hoạt động riêng lẻ sang tài trợ cho cả chuỗi giá trị, từ con giống, thức ăn, hạ tầng nuôi, công nghệ giám sát đến thu mua, chế biến và xuất khẩu.

Với người nuôi, tín dụng cần có kỳ hạn và lịch trả nợ phù hợp chu kỳ sinh trưởng của thủy sản, hạn chế áp lực trả nợ khi chưa đến thời điểm thu hoạch. Với doanh nghiệp, cần tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn trung và dài hạn để đầu tư hạ tầng, lồng nuôi công nghệ mới, hệ thống bảo quản và chế biến. Với hợp tác xã, cơ chế tài trợ theo phương án liên kết sản xuất, có hợp đồng tiêu thụ và sự tham gia của doanh nghiệp đầu mối, có thể giúp tăng khả năng tiếp cận vốn và giảm rủi ro tín dụng.

Điều quan trọng là vốn phải đi cùng năng lực quản trị. Một dự án nuôi biển không thể chỉ được đánh giá qua quy mô diện tích hay số lượng lồng bè, mà cần xem xét chất lượng quy hoạch, khả năng kiểm soát môi trường, phương án tiêu thụ, năng lực tài chính và sức chống chịu trước biến động thị trường.

Khơi thông vốn, mở đường cho những mô hình mới

An Giang đang xây dựng đề án phát triển nuôi biển giai đoạn 2026-2030, gắn quy hoạch không gian nuôi với tổ chức lại sản xuất và chuyển đổi nghề khai thác thủy sản. Tỉnh đã chấp thuận chủ trương cho 5 doanh nghiệp thực hiện các dự án nuôi biển, tổng diện tích khoảng 2.900ha, vốn đầu tư hơn 1.115 tỷ đồng. Đồng thời, 8 dự án khác được đưa vào danh mục kêu gọi đầu tư năm 2026, với diện tích khoảng 2.480ha và tổng vốn dự kiến khoảng 1.730 tỷ đồng.

Đây là cơ sở để ngân hàng, doanh nghiệp và người dân hình thành các phương án hợp tác đầu tư thực chất. Khi doanh nghiệp đảm nhận hạ tầng và công nghệ, hợp tác xã, hộ nuôi tham gia sản xuất theo quy trình thống nhất, dòng vốn có thể được phân bổ hiệu quả hơn, thay vì để từng hộ tự gánh toàn bộ chi phí và rủi ro.

Dẫu vậy, tín dụng không thể một mình giải quyết những điểm nghẽn về giao khu vực biển, hạ tầng điện, nước ngọt, dịch vụ hậu cần hay chất lượng nguồn giống. Các điều kiện này cần được tháo gỡ đồng bộ để dự án có cơ sở triển khai, dòng tiền hình thành và khoản vay có khả năng hoàn trả. Song song đó, cần phát triển bảo hiểm phù hợp với rủi ro nuôi biển, nâng chất lượng dữ liệu sản xuất và tăng cường liên kết tiêu thụ nhằm hạn chế tổn thất cho cả người vay lẫn tổ chức tín dụng.

Một hướng đi đáng chú ý là gắn nguồn vốn phát triển nuôi biển với chuyển đổi nghề cho ngư dân. Hỗ trợ đào tạo nghề, tiếp cận kỹ thuật, tham gia mô hình nuôi công nghiệp và liên kết tiêu thụ sẽ giúp người dân từng bước chuyển từ khai thác ven bờ sang sinh kế có khả năng tạo giá trị ổn định hơn. Đây cũng là cách kết hợp mục tiêu phát triển kinh tế với bảo vệ nguồn lợi thủy sản và chống khai thác IUU.

Từ cấp vốn đến kiến tạo năng lực cạnh tranh

Trong tầm nhìn phát triển kinh tế biển, tín dụng cần được nhìn nhận như một công cụ phân bổ nguồn lực chiến lược. Dòng vốn hiệu quả không chỉ tạo thêm lồng nuôi hay mở rộng diện tích sản xuất, mà phải thúc đẩy đổi mới công nghệ, nâng chất lượng sản phẩm, giảm tổn thất và gia tăng giá trị trong nước.

Muốn vậy, An Giang cần tăng cường phối hợp giữa chính quyền, ngành Ngân hàng, doanh nghiệp và người dân; công khai thông tin quy hoạch, hoàn thiện cơ chế hỗ trợ đầu tư, đồng thời xây dựng các mô hình liên kết đủ minh bạch để ngân hàng đánh giá được hiệu quả và rủi ro. Các chương trình tín dụng hiện hành cần được vận dụng phù hợp với điều kiện thực tế, trên cơ sở bảo đảm an toàn vốn và đúng quy định.

Lợi thế biển chỉ trở thành sức mạnh kinh tế khi được chuyển hóa thành năng lực sản xuất, công nghệ và thị trường. Với An Giang, khơi thông tín dụng cho nuôi biển công nghệ cao vì thế không đơn thuần là giải bài toán vốn trước mắt, mà là đặt nền móng cho một mô hình kinh tế biển có sức cạnh tranh, có khả năng chống chịu và tạo sinh kế lâu dài. Khi dòng vốn tìm được đúng địa chỉ, đúng thời điểm và gắn với chuỗi giá trị bền vững, biển sẽ không chỉ là lợi thế tự nhiên, mà thực sự trở thành động lực tăng trưởng mới của tỉnh.

Theo PGS,TS. Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, vốn cho nuôi biển phải gắn với tổ chức lại sản xuất, An Giang có thể nghiên cứu mô hình khu nuôi biển công nghiệp hoặc làng nuôi biển hiện đại, trong đó doanh nghiệp đầu tư hạ tầng, còn người dân và hợp tác xã tham gia sản xuất, tiếp cận con giống, kỹ thuật, giải pháp quản lý dịch bệnh và hệ thống tiêu thụ sản phẩm.

Từ định hướng này, bài toán tín dụng cần được giải quyết trên cơ sở liên kết giữa các chủ thể. Khi hạ tầng, công nghệ và đầu ra được tổ chức đồng bộ, người dân có thể giảm áp lực đầu tư riêng lẻ, còn ngân hàng có thêm cơ sở thẩm định phương án sản xuất và khả năng trả nợ. Về lâu dài, hiệu quả của dòng vốn không chỉ nằm ở quy mô giải ngân, mà ở khả năng giúp người nuôi giảm rủi ro, nâng giá trị sản phẩm và duy trì sinh kế bền vững.

TheoThị Trường Tài Chính Tiền Tệ

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.