Ngày 19/10/2026, Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam (Vicofa) tổ chức hội nghị tổng kết niên vụ cà phê 2025 - 2026, đánh giá tình hình sản xuất, xuất khẩu, biến động giá và tiêu thụ cà phê trong nước.
Xuất khẩu đạt 8,5 tỷ USD, chế biến sâu tăng trưởng
Báo cáo tổng kết, ông Đỗ Xuân Hiền, Chánh văn phòng Vicofa cho biết, trong niên vụ 2025-2026, sản lượng cà phê Việt Nam ước đạt 31,7 triệu bao loại 60 kg, tương đương 1,9 triệu tấn, tăng khoảng 6-10% so với niên vụ trước. Robusta tiếp tục chiếm hơn 90% tổng sản lượng, giúp Việt Nam duy trì vị thế nhà cung cấp Robusta hàng đầu thế giới. Phần còn lại chủ yếu là Arabica và Liberica.
Bên cạnh đó, ngành cà phê đẩy mạnh chuyển đổi phương thức canh tác nhằm đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững, đặc biệt trước các quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu (EUDR).
Các vùng trồng trọng điểm tại Tây Nguyên đã triển khai số hóa dữ liệu định vị GPS. Áp dụng các chứng nhận quốc tế như 4C, Rainforest Alliance (RA) và Organic tiếp tục được mở rộng. Theo số liệu được cung cấp, tỷ lệ diện tích cà phê áp dụng các tiêu chuẩn này tại Gia Lai đạt hơn 53%, Lâm Đồng gần 36,4% và Đắk Lắk khoảng 31%.
Nhiều nông hộ chuyển sang mô hình xen canh cà phê với sầu riêng, hồ tiêu và các loại cây trồng khác nhằm tạo bóng mát, tiết kiệm nước và đa dạng hóa thu nhập.
Tuy nhiên, sản xuất vẫn đối mặt với áp lực chi phí phân bón, vật tư nông nghiệp và nhân công tăng cao. Thời tiết cực đoan, mưa nắng thất thường tại Tây Nguyên cũng ảnh hưởng đến quá trình nuôi trái, làm gia tăng tỷ lệ hạt nhỏ ở một số vùng.
Trong niên vụ 2025-2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,8 triệu tấn cà phê, đạt kim ngạch ước 8,5 tỷ USD. Khối lượng tăng khoảng 21%, trong khi kim ngạch tăng 1% so với niên vụ trước. Đây là mức kim ngạch xuất khẩu cao nhất từ trước đến nay của ngành cà phê Việt Nam.
Trong đó, cà phê nhân xanh đạt khoảng 1,65 triệu tấn, kim ngạch gần 7 tỷ USD, tăng 21,4% về khối lượng nhưng giảm 1,5% về giá trị. Diễn biến này cho thấy lượng xuất khẩu tăng mạnh nhưng chưa tạo ra mức tăng tương ứng về kim ngạch ở phân khúc cà phê nhân.
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm khoảng 30% tổng lượng cà phê nhân xanh xuất khẩu và 31% kim ngạch của phân khúc này.
Đáng chú ý, xuất khẩu cà phê chế biến sâu tiếp tục tăng trưởng, phản ánh xu hướng mở rộng từ cà phê nhân sang các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn như cà phê hòa tan, cà phê tinh chế và cà phê phối trộn. Các nhà máy chế biến công nghệ cao được đầu tư tại Bình Dương và một số tỉnh Tây Nguyên, góp phần đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu.
Trong niên vụ này, cà phê chế biến sâu xuất khẩu khoảng 142.600 tấn, chưa quy đổi, đạt kim ngạch khoảng 1,5 tỷ USD, tăng 15% về khối lượng và 14% về giá trị so với niên vụ trước.
Về thị trường, Liên minh châu Âu (EU) tiếp tục là khu vực tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam, chiếm hơn 38% thị phần xuất khẩu. Hoa Kỳ và Nhật Bản duy trì tỷ trọng khoảng 5-7% mỗi thị trường. Trong khi đó, Trung Quốc có nhu cầu ngày càng tăng đối với cà phê hòa tan và nguyên liệu phục vụ chế biến sâu.
EUDR gia tăng yêu cầu truy xuất nguồn gốc
Yêu cầu về phát triển bền vững và truy xuất nguồn gốc ngày càng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp cận thị trường xuất khẩu. Việc số hóa vùng trồng, xây dựng bản đồ nguyên liệu và quản lý dữ liệu GPS trở thành những khâu quan trọng để doanh nghiệp chứng minh nguồn gốc hợp pháp và đáp ứng các yêu cầu liên quan đến chống mất rừng.
Theo thông tin được cung cấp, một số doanh nghiệp xuất khẩu cà phê Việt Nam ghi nhận mức giá cộng thêm khoảng 50 USD/tấn đối với sản phẩm đáp ứng yêu cầu EUDR. Các lô hàng có hồ sơ truy xuất đầy đủ cũng có lợi thế khi tiếp cận nhà rang xay châu Âu.
Tuy nhiên, việc đáp ứng các tiêu chuẩn này đòi hỏi doanh nghiệp đầu tư thêm cho hệ thống dữ liệu, kiểm soát vùng nguyên liệu và phối hợp với nông hộ, hợp tác xã. Đối với nguyên liệu nhập khẩu để chế biến, tái xuất sang châu Âu, doanh nghiệp cũng phải kiểm tra hồ sơ và dữ liệu vùng trồng theo các yêu cầu áp dụng, làm tăng chi phí quản lý chuỗi cung ứng.
Đầu niên vụ, từ tháng 10/2025 - 1/2026, giá xuất khẩu cà phê duy trì ở mức cao, bình quân tháng 1 đạt khoảng 4.820 USD/tấn. Nguồn hàng tồn từ vụ trước giảm trong khi nhu cầu giao hàng tăng, góp phần hỗ trợ giá.
Từ tháng 2 - 5/2026, thị trường chịu áp lực điều chỉnh khi triển vọng sản lượng tại Brazil và Việt Nam được đánh giá tích cực hơn. Đến tháng 5, giá xuất khẩu bình quân tại cảng giảm về khoảng 4.411 USD/tấn.
Từ tháng 6 - 9/2026, giá tiếp tục biến động. Giá xuất khẩu bình quân tháng 6 đạt khoảng 4.631 USD/tấn, trước khi giảm trong những tháng tiếp theo do nguồn cung gia tăng. Theo số liệu tổng kết, giá trong tháng 8 và tháng 9 dao động quanh 3.500-4.000 USD/tấn.
Tại thị trường nội địa, giá cà phê nhân khu vực Tây Nguyên có độ trễ nhất định so với thị trường quốc tế. Tính đến ngày 29/9/2026, giá thu mua phổ biến ở mức 93.000-93.600 đồng/kg, thấp hơn mức đỉnh 115.000-118.000 đồng/kg ghi nhận vào cuối năm 2025 nhưng vẫn ở mức cao.
Giá nguyên liệu cao hỗ trợ doanh thu của người trồng, song tạo áp lực chi phí đối với các doanh nghiệp rang xay và chế biến, nhất là những đơn vị phụ thuộc nhiều vào nguồn cung trong nước.
Nhập khẩu tăng để bổ sung nguyên liệu
Dù là quốc gia xuất khẩu cà phê lớn, Việt Nam vẫn nhập khẩu nguyên liệu nhằm phục vụ chế biến, bổ sung nguồn cung trong giai đoạn giáp vụ và đáp ứng nhu cầu sản xuất các dòng sản phẩm khác nhau.
Niên vụ 2025-2026, lượng cà phê nhập khẩu ước đạt 172.252 tấn, kim ngạch đạt 921,28 triệu USD, tăng 57% về khối lượng và 64,5% về giá trị so với niên vụ trước.
Trong đó, cà phê nhân nhập khẩu đạt khoảng 149.200 tấn, trị giá 703,62 triệu USD. Riêng Arabica đạt 45.895 tấn, kim ngạch đạt 295,89 triệu USD.
Brazil là nguồn cung quan trọng, đặc biệt đối với Arabica và nguyên liệu phục vụ các nhà máy chế biến. Indonesia cung cấp Robusta bổ sung trong giai đoạn nguồn cung nội địa hạn chế. Lào và Campuchia có lợi thế về khoảng cách địa lý, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động giao thương.