Tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn về cơ chế, chính sách
Thông tin tại Diễn đàn “Tận dụng nguồn lực thúc đẩy tăng trưởng xanh 2026” do Báo Đại biểu Nhân dân tổ chức chiều ngày 23/4, ông Nguyễn Trung Thắng, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, chính sách nông nghiệp và môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, thời gian qua, nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế ưu đãi, khuyến khích doanh nghiệp chuyển đổi xanh, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
Cụ thể, các hoạt động bảo vệ môi trường được hỗ trợ toàn diện về đất đai, hạ tầng, vốn và thuế.
Đặc biệt, chính sách cũng khuyến khích các tổ chức tín dụng ưu tiên tài trợ, cho vay với điều kiện ưu đãi đối với các dự án thuộc danh mục phân loại xanh. Những dự án này được tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn từ Chính phủ, các tổ chức quốc tế và đối tác phát triển, cùng với các chương trình đào tạo, tập huấn về tín dụng xanh.
Đáng chú ý, Nghị quyết 198/2025/QH15 của Quốc hội quy định doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh được hỗ trợ lãi suất 2%/năm khi vay vốn triển khai các dự án xanh, kinh tế tuần hoàn và áp dụng các tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG).
Trong lĩnh vực mua sắm công, các dự án đầu tư và nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước được ưu tiên sử dụng sản phẩm, dịch vụ đạt Nhãn sinh thái Việt Nam. Yêu cầu này được lồng ghép vào tiêu chí lựa chọn nhà thầu, đồng thời khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đẩy mạnh mua sắm xanh, góp phần mở rộng thị trường cho các sản phẩm thân thiện môi trường.
Tuy nhiên, theo ông Thắng, quá trình triển khai các cơ chế, chính sách vẫn còn nhiều vướng mắc. Hệ thống văn bản hướng dẫn chưa đầy đủ, thiếu sự đồng bộ giữa các lĩnh vực như mua sắm công xanh, tín dụng xanh, trái phiếu xanh hay cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân.
Bên cạnh đó, thủ tục hành chính và điều kiện tiếp cận nguồn tài chính xanh vẫn còn phức tạp. Cơ sở dữ liệu và thông tin về các dự án xanh còn thiếu; năng lực xác nhận, giám sát và đánh giá dự án xanh còn hạn chế, tiềm ẩn rủi ro “giả xanh”.
Ngoài ra, nguồn lực tài chính hỗ trợ cho bảo vệ môi trường và các dự án xanh còn chưa đáp ứng yêu cầu. Ở phía doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, năng lực hấp thụ còn yếu do thiếu nhân lực chuyên môn về ESG, MRV, hạn chế về quy mô vốn, năng lực quản trị cũng như hiểu biết về các tiêu chí phân loại xanh.
“Để tận dụng nguồn lực thúc đẩy tăng trưởng xanh, trong thời gian tới cần tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn về cơ chế, chính sách, trong đó sớm ban hành và hoàn thiện các văn bản hướng dẫn liên quan đến mua sắm công xanh, tín dụng xanh và các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân”, ông Thắng đề xuất
Cùng với đó, cần đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện tiếp cận các ưu đãi để doanh nghiệp dễ dàng tham gia vào quá trình chuyển đổi xanh. Việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin về các dự án xanh cũng được xem là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao tính minh bạch và khả năng kết nối nguồn lực.
Đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế để huy động các nguồn lực tài chính xanh, nâng cao năng lực cho các bên liên quan, bao gồm doanh nghiệp, tổ chức tín dụng và các đơn vị xác nhận, đánh giá dự án xanh.
Cần chỉ tiêu cụ thể để thúc đẩy tín dụng xanh
Chia sẻ tại Diễn đàn, TS. Nguyễn Trí Hiếu, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển thị trường Tài chính và Bất động sản Toàn cầu cho rằng, dù đã có bước tiến trong khoảng một thập kỷ qua, các công cụ như tín dụng xanh, trái phiếu xanh vẫn còn tương đối mới mẻ tại Việt Nam.
Trong đó, tín dụng xanh được đánh giá là kênh chủ lực. Dư nợ tín dụng xanh tại Việt Nam cuối năm 2025 đạt khoảng 780.000 - 850.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 4,1% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Dù quy mô còn khiêm tốn, tốc độ tăng trưởng bình quân những năm gần đây đạt 20 - 25%/năm, cao hơn đáng kể so với tín dụng chung của hệ thống. Số lượng tổ chức tín dụng tham gia cũng tăng mạnh, từ 15 đơn vị năm 2017 lên 58 đơn vị vào cuối năm 2025.
Về cơ cấu, tín dụng xanh tập trung chủ yếu vào nông nghiệp (30 - 33%) và năng lượng tái tạo, năng lượng sạch (khoảng 40%), trong khi nhiều lĩnh vực như giao thông xanh, công trình xanh hay kinh tế tuần hoàn vẫn còn thiếu nguồn vốn. Đáng chú ý, tín dụng xanh đang mở rộng sang lĩnh vực tiêu dùng, như cho vay mua nhà xanh, điện mặt trời áp mái hay phương tiện giao thông thân thiện môi trường.
Tuy nhiên, theo ông Hiếu, tín dụng xanh đang đối mặt với không ít thách thức. Áp lực thanh khoản và quy định về tỷ lệ cho vay so với huy động khiến các ngân hàng phải thận trọng trong cấp tín dụng. Trong bối cảnh nhu cầu vốn của nền kinh tế tăng cao, lãi suất huy động có xu hướng nhích lên, kéo theo chi phí vốn tăng, khiến dư địa dành cho tín dụng xanh bị thu hẹp.
Bên cạnh đó, đặc thù của các dự án xanh là thời gian hoàn vốn dài, lợi nhuận không cao trong ngắn hạn, trong khi lại phải đáp ứng nhiều tiêu chuẩn mới như ESG hay các chuẩn mực quốc tế khắt khe, tạo thêm áp lực cho cả ngân hàng và doanh nghiệp.
Từ thực tế này, ông Hiếu đề xuất Ngân hàng Nhà nước cần có định hướng mạnh mẽ hơn, trong đó có thể xem xét giao chỉ tiêu cụ thể để nâng tỷ trọng tín dụng xanh lên tối thiểu 5% trong tổng dư nợ của mỗi ngân hàng, thay vì hoàn toàn dựa vào tính tự nguyện.
Đối với trái phiếu xanh, quy mô hiện còn khá nhỏ, với tổng dư nợ khoảng 30.000 tỷ đồng (tương đương 1,2 tỷ USD), chiếm khoảng 2% thị trường trái phiếu. Dù đã có một số tổ chức phát hành như chính quyền địa phương hay doanh nghiệp lớn, số lượng vẫn hạn chế.
Theo ông Hiếu, nguyên nhân chủ yếu là do trái phiếu xanh thường có kỳ hạn dài (5 - 15 năm), rủi ro cao, trong khi các dự án xanh không tạo dòng tiền nhanh, khiến nhà đầu tư yêu cầu mức lãi suất cao. Ngoài ra, nhiều trái phiếu không có tài sản bảo đảm, mà phụ thuộc vào dòng tiền của dự án, càng làm gia tăng mức độ thận trọng của thị trường.
Ông nhận định, trong giai đoạn tới, trái phiếu xanh sẽ phù hợp hơn với các doanh nghiệp quy mô lớn, đặc biệt là doanh nghiệp có vốn nhà nước. “Nếu được hỗ trợ về chính sách và nâng cao nhận thức thị trường, cả tín dụng xanh và trái phiếu xanh vẫn còn nhiều dư địa phát triển trong thời gian tới”, chuyên gia quả quyết.