Dòng vốn không chỉ “chảy” mà phải “dẫn dắt”
Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Khu vực 14 cho thấy, đến tháng 4/2026, tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn đạt khoảng 338.880 tỷ đồng, tăng hơn 2% so với cuối năm trước. Đáng chú ý ở chất lượng phân bổ.
Dòng vốn đang tập trung rõ nét vào các lĩnh vực then chốt: Nông nghiệp, nông thôn đạt hơn 132.000 tỷ đồng; thương mại – dịch vụ hơn 227.000 tỷ đồng; công nghiệp – xây dựng gần 77.000 tỷ đồng. Điều này phản ánh một thực tế tín dụng không còn “trải đều”, mà đang bám sát cấu trúc kinh tế của thành phố – nơi dịch vụ, logistics và nông nghiệp công nghệ cao giữ vai trò trụ cột.
ThS. Trần Quốc Hà, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Khu vực 14 chia sẻ: “Tăng trưởng tín dụng hiện nay không còn chạy theo quy mô, mà phải đi cùng hiệu quả và định hướng phát triển của địa phương. Nếu không đi cùng chiến lược, tín dụng sẽ trở thành gánh nặng thay vì động lực”.
Một trong những điểm sáng đáng chú ý là tín dụng đang góp phần thúc đẩy quá trình tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng xanh và bền vững.
TP. Cần Thơ đang triển khai mạnh mẽ Đề án phát triển 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Thành phố đã huy động 171 hợp tác xã tham gia, với diện tích lên đến 170.877 ha. Các mô hình sản xuất như “3 giảm, 3 tăng”, “1 phải, 5 giảm”, canh tác lúa giảm phát thải và ứng dụng công nghệ cao, nhà màng, nhà kính đang dần trở thành chuẩn mực mới.
Điểm đáng nói là những mô hình này không thể vận hành nếu thiếu vốn trung và dài hạn. Từ đầu tư hệ thống thủy lợi, cơ giới hóa đến chuyển đổi số trong canh tác – tất cả đều cần tín dụng “đồng hành dài hơi”. Hiệu quả bước đầu đã rất rõ lợi nhuận nông dân tăng trung bình khoảng 6 triệu đồng/ha/vụ nhờ giảm chi phí và nâng cao chất lượng sản phẩm.
TS. Nguyễn Xuân Hoàng, Đại học Cần Thơ nhận định, giảm phát thải trong nông nghiệp không chỉ là yêu cầu môi trường, mà còn là cơ hội nâng cao giá trị gia tăng. Nhưng để làm được điều đó, tín dụng xanh phải đi trước một bước, tạo điều kiện để nông dân và hợp tác xã tiếp cận công nghệ mới.
Tín dụng 2026 – Vốn phải đi cùng với giải pháp
ThS. Trần Quốc Hà cho biết thêm, 3 chuyển dịch lớn của tín dụng tại TP. Cần Thơ: Từ tăng trưởng số lượng sang chất lượng tín dụng kiểm soát nợ xấu (giảm còn 2,83%). Từ dàn trải sang tập trung ưu tiên nông nghiệp, logistics, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Từ truyền thống sang xanh và số hóa thúc đẩy tín dụng xanh, công nghệ cao, chuỗi giá trị.
Tín dụng không còn là “nguồn lực hỗ trợ”, mà là “công cụ điều tiết phát triển”. Logistics “điểm nghẽn” đang được tín dụng khai thông. Nếu nông nghiệp là nền tảng, thì logistics chính là “chìa khóa” để TP. Cần Thơ bứt phá.
Thành phố đang nổi lên như trung tâm logistics của vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với các dự án lớn như: Cảng Tân Cảng Cái Cui (500.000 TEU/năm); Cảng Tân Cảng Thốt Nốt và hệ thống vận tải thủy với hơn 100 sà lan. Đằng sau những con số này là vai trò không thể thiếu của tín dụng ngân hàng tài trợ đầu tư hạ tầng cảng, hỗ trợ doanh nghiệp logistics mở rộng quy mô và tài trợ chuỗi cung ứng xuất khẩu.
Theo TS. Trần Hữu Hiệp chuyên gia tài chính nhận định, nếu không có tín dụng, logistics chỉ dừng ở quy hoạch. Nhưng khi có vốn, nó trở thành năng lực cạnh tranh thực sự.
Đáng chú ý, mô hình “vận tải xanh” bằng sà lan điện đang được đề xuất – mở ra nhu cầu lớn về tín dụng xanh trong thời gian tới.
Quý I/2026, GRDP của TP. Cần Thơ tăng 7,02% – thấp hơn mục tiêu đề ra (9,5–10,9%). Điều này đặt ra áp lực lớn cho các quý còn lại. Trong bối cảnh đó, tín dụng được kỳ vọng đóng vai trò “kích hoạt tăng trưởng” ở 3 trục chính, gồm: (1) Kích cầu sản xuất – kinh doanh, tín dụng giúp doanh nghiệp duy trì dòng tiền, mở rộng sản xuất trong bối cảnh chi phí đầu vào tăng; (2) Thúc đẩy đầu tư công – tư, dòng vốn ngân hàng đóng vai trò “vốn mồi”, kích hoạt các dự án hạ tầng và khu công nghiệp; (3) Hỗ trợ tiêu dùng, tổng mức bán lẻ quý I đạt hơn 61.000 tỷ đồng, tăng 14,11% – một phần nhờ tín dụng tiêu dùng phục hồi.
ThS. Trần Quốc Hà nhận định, dù đóng vai trò quan trọng, tín dụng trên địa bàn TP. Cần Thơ vẫn đối mặt nhiều thách thức như: Khả năng hấp thụ vốn chưa đồng đều, nhiều hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ còn hạn chế về quản trị và tài sản đảm bảo.
Thiếu liên kết chuỗi, ít doanh nghiệp tham gia bao tiêu sản phẩm nông nghiệp, khiến dòng vốn khó “đi trọn chuỗi giá trị”. Hạ tầng chưa đồng bộ, thủy lợi, giao thông nội đồng còn hạn chế, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn và tín dụng xanh còn sơ khai, dù nhu cầu lớn, nhưng cơ chế, tiêu chuẩn và nguồn vốn ưu đãi vẫn chưa đủ mạnh.
Vấn đề không phải là thiếu vốn, mà là sử dụng vốn chưa tối ưu. Tín dụng cần gắn với công nghệ, quản lý nước, phân bón và chuỗi giá trị để tạo hiệu quả bền vững. Muốn tín dụng phát huy hiệu quả, phải biến mỗi cánh đồng thành một “nhà máy” – nơi sản xuất không chỉ lúa mà cả giá trị gia tăng từ phụ phẩm.
Theo GS,TS. Lê Văn Cảnh, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh, để “mở khóa” tín dụng cho tăng trưởng hai con số, các tổ chức tín dụng trên địa bàn cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau: Phát triển tín dụng theo chuỗi giá trị ưu tiên mô hình liên kết “ngân hàng – doanh nghiệp – hợp tác xã – nông dân”. Đẩy mạnh tín dụng xanh, xây dựng tiêu chí rõ ràng, cơ chế ưu đãi lãi suất cho dự án giảm phát thải. Nâng cao năng lực hấp thụ vốn, đào tạo quản trị cho HTX, doanh nghiệp nhỏ. Gắn tín dụng với quy hoạch vùng, tập trung vốn vào logistics, công nghiệp chế biến và nông nghiệp công nghệ cao. Và tăng cường phối hợp chính sách, kết hợp tín dụng với đầu tư công và cải cách thủ tục hành chính.
Hành trình hướng tới tăng trưởng hai con số của TP. Cần Thơ không thể chỉ dựa vào đầu tư công hay xuất khẩu. Trong bức tranh đó, tín dụng ngân hàng chính là “đòn bẩy mềm” nhưng có sức nặng quyết định. Vấn đề là “vốn đi vào đâu, tạo ra giá trị gì”. Khi dòng tín dụng thực sự gắn với chuyển đổi xanh, logistics hiện đại và chuỗi giá trị nông nghiệp, nó sẽ không chỉ là “bệ đỡ”, mà còn là “động cơ tăng trưởng”. Và khi đó, mục tiêu hai con số sẽ không còn là áp lực – mà trở thành kết quả tất yếu của một cấu trúc phát triển được dẫn dắt đúng hướng.