T4 27/05/2026 · No. 004

‏Dòng chảy tín dụng tiếp sức kinh tế hợp tác xã An Giang phát triển‏

‏Dòng chảy tín dụng tiếp sức kinh tế hợp tác xã An Giang phát triển‏

‏Khi hợp tác xã cần “đòn bẩy” tín dụng‏

‏Những năm gần đây, khu vực kinh tế hợp tác tại An Giang đã có nhiều chuyển biến tích cực khi ngày càng nhiều HTX tham gia liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản theo chuỗi giá trị. Từ mô hình cánh đồng lớn, sản xuất lúa chất lượng cao đến nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn, nhiều HTX đã trở thành cầu nối quan trọng giữa nông dân với doanh nghiệp và thị trường xuất khẩu.‏

‏Tuy nhiên, phía sau những chuyển động tích cực ấy vẫn còn không ít khó khăn, đặc biệt là bài toán vốn đầu tư để nâng cấp hạ tầng, cơ giới hóa và mở rộng quy mô sản xuất.‏

‏Tại xã Long Thạnh, HTX Nông nghiệp Đường Gỗ Lộ đang từng bước chuyển đổi theo hướng sản xuất hiện đại gắn với Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Hiện gần 1.000ha lúa của HTX đã được cơ giới hóa đồng bộ, giúp giảm chi phí sản xuất và nâng cao chất lượng hạt lúa.‏

‏Không dừng ở sản xuất lúa, HTX còn định hướng tận dụng rơm rạ sau thu hoạch để sản xuất phân hữu cơ, làm nhang và phát triển các sản phẩm từ phụ phẩm nông nghiệp. Đây được xem là hướng đi phù hợp với mô hình kinh tế tuần hoàn và tăng trưởng xanh mà ngành nông nghiệp đang thúc đẩy.‏

‏Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Hồng Phương, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc HTX Nông nghiệp Đường Gỗ Lộ, khó khăn lớn nhất hiện nay vẫn là khả năng tiếp cận vốn vay. Để đầu tư máy móc, thiết bị phục vụ chế biến phụ phẩm nông nghiệp, HTX cần nguồn vốn trung và dài hạn khá lớn, trong khi tài sản bảo đảm còn hạn chế.‏

‏Không riêng HTX Đường Gỗ Lộ, nhiều HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh cũng đang gặp “nút thắt” tương tự. Theo Liên minh HTX tỉnh An Giang, toàn tỉnh hiện có 854 HTX hoạt động trên nhiều lĩnh vực, trong đó HTX nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn. Phần lớn các HTX đã bắt đầu chuyển đổi theo hướng liên kết chuỗi, sản xuất xanh và ứng dụng công nghệ vào sản xuất. Tuy nhiên, đa số vẫn hoạt động ở quy mô nhỏ, năng lực tài chính còn hạn chế và khó tiếp cận các nguồn vốn thương mại.‏

‏Trong bối cảnh đó, vai trò của dòng vốn tín dụng đối với phát triển kinh tế hợp tác càng trở nên quan trọng.‏

‏Dòng vốn tín dụng ưu tiên chảy mạnh vào nông nghiệp. Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực 15 cho thấy, đến cuối tháng 4/2026, tổng dư nợ tín dụng của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh An Giang đạt khoảng 278.257 tỷ đồng, tăng 2,09% so với cuối năm 2025. Trong đó, dư nợ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt 59.595 tỷ đồng, tăng 3,71% so với cuối năm trước.‏

‏Đáng chú ý, dư nợ cho vay đối với lĩnh vực ưu tiên nông nghiệp, nông thôn tại An Giang đạt 158.208 tỷ đồng, tăng 2,32% so với cuối năm 2025. Đây là mức dư nợ khá lớn, phản ánh định hướng ưu tiên dòng vốn phục vụ sản xuất nông nghiệp, phát triển nông thôn và hỗ trợ các mô hình liên kết sản xuất trên địa bàn.‏

‏Trong cơ cấu tín dụng ưu tiên, dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 37.856 tỷ đồng, tăng 0,64%. Đây là nguồn lực quan trọng hỗ trợ nhiều HTX và tổ hợp tác mở rộng sản xuất, đầu tư kho chứa, máy móc và nâng cao năng lực chế biến nông sản.‏

‏Các chương trình tín dụng chính sách cũng đang góp phần tiếp sức cho kinh tế hợp tác. Theo Nghị quyết số 337/2020/NQ-HĐND về hỗ trợ tín dụng cho HTX nông nghiệp giai đoạn 2020-2025, Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh An Giang đã giải ngân cho vay đối với 2 HTX nông nghiệp với số tiền 2,48 tỷ đồng; dư nợ hiện còn khoảng 2 tỷ đồng.‏

‏Dù quy mô chưa lớn, nhưng đây được xem là tín hiệu tích cực cho thấy dòng vốn ưu đãi đang từng bước tiếp cận khu vực kinh tế hợp tác – lĩnh vực vốn được xem là “mắt xích yếu” trong khả năng hấp thụ tín dụng.

Từ vốn vay đến chuyển đổi mô hình sản xuất

‏Tại xã Cô Tô, HTX Nông nghiệp Tà Đảnh đang trở thành mô hình tiêu biểu về nông nghiệp tuần hoàn gắn với tạo sinh kế cho người dân địa phương, đặc biệt là đồng bào Khmer.‏

‏HTX tập trung sản xuất các loại nấm hữu cơ như linh chi, nấm mối đen, nấm bào ngư từ nguồn phụ phẩm nông nghiệp như rơm rạ, trấu, cám gạo. Sau thu hoạch, giá thể tiếp tục được tái sử dụng để nuôi trùn quế, sản xuất phân hữu cơ và phục vụ chăn nuôi, tạo nên chuỗi sản xuất khép kín.‏

‏Không chỉ nâng giá trị phụ phẩm nông nghiệp, mô hình còn tạo việc làm ổn định cho lao động địa phương, trong đó khoảng 90% lao động là người Khmer.‏

‏Tuy nhiên, theo bà Châu Thị Nương, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc HTX, để nâng sức cạnh tranh, HTX cần thêm nguồn lực đầu tư máy móc chế biến sâu, ứng dụng công nghệ số, truy xuất nguồn gốc và mở rộng thị trường tiêu thụ.‏

‏“Vốn vay ưu đãi, hỗ trợ chuyển đổi số và kết nối thương mại điện tử sẽ giúp HTX phát triển bền vững hơn trong thời gian tới”, bà Nương chia sẻ.‏

‏Thực tế cho thấy, khi được tiếp cận tín dụng phù hợp, nhiều HTX đã mạnh dạn chuyển đổi mô hình sản xuất từ nhỏ lẻ sang liên kết chuỗi, từ sản xuất truyền thống sang nông nghiệp xanh và nông nghiệp tuần hoàn. Đây cũng là xu hướng tất yếu trong bối cảnh thị trường ngày càng đòi hỏi tiêu chuẩn cao về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững.‏

Cần cơ chế đặc thù cho “hạt nhân” nông nghiệp

‏Theo ThS. Trần Văn Phước, Quyền Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực 15, để tín dụng thực sự “tiếp sức” cho HTX tại An Giang, cần một cách tiếp cận đột phá hơn thay vì chỉ dựa vào các tiêu chuẩn cho vay thương mại truyền thống cụ thể là: Thúc đẩy cho vay theo chuỗi giá trị, các tổ chức tín dụng cần mạnh dạn hơn trong việc cho vay tín chấp dựa trên phương án kinh doanh và hợp đồng liên kết tiêu thụ sản phẩm. Khi HTX có đầu ra ổn định từ doanh nghiệp, đó chính là “tài sản thế chấp” uy tín nhất.‏

‏Đẩy mạnh chuyển đổi số trong thẩm định, hỗ trợ HTX thực hiện minh bạch hóa tài chính qua phần mềm kế toán và truy xuất nguồn gốc. Điều này giúp ngân hàng dễ dàng giám sát dòng tiền và đánh giá rủi ro, từ đó khơi thông nguồn vốn cho vay ứng dụng công nghệ cao.‏

‏Hóa giải rào cản pháp lý, cần có cơ chế linh hoạt trong việc công chứng, chứng thực hợp đồng nông nghiệp hoặc hỗ trợ phí cho HTX để khuyến khích mô hình liên kết chuỗi phát triển.‏

‏Khu vực HTX hiện đóng vai trò quan trọng trong tái cơ cấu nông nghiệp, nhất là trong tổ chức sản xuất quy mô lớn, kiểm soát chất lượng và xây dựng chuỗi liên kết tiêu thụ nông sản. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận tín dụng của nhiều HTX vẫn còn hạn chế do thiếu tài sản bảo đảm, năng lực quản trị tài chính chưa đồng đều và phương án kinh doanh chưa đủ sức thuyết phục tổ chức tín dụng.‏

‏Cần có cơ chế tín dụng linh hoạt hơn dành riêng cho khu vực kinh tế hợp tác, đặc biệt là các HTX tham gia sản xuất xanh, kinh tế tuần hoàn và liên kết chuỗi giá trị.‏

‏Mở rộng hình thức cho vay tín chấp dựa trên hợp đồng liên kết tiêu thụ nông sản; đồng thời xây dựng quỹ bảo lãnh tín dụng cho HTX nhằm giảm áp lực về tài sản bảo đảm. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh đào tạo kỹ năng quản trị, xây dựng phương án sản xuất – kinh doanh và minh bạch tài chính để nâng cao khả năng hấp thụ vốn của HTX.‏

‏Ngoài dòng vốn tín dụng, HTX cũng cần được hỗ trợ mạnh hơn về chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử và kết nối thị trường xuất khẩu. Khi được tiếp sức đồng bộ, HTX sẽ không chỉ là nơi cung ứng dịch vụ đầu vào cho nông dân mà còn trở thành trung tâm tổ chức sản xuất hiện đại của nông nghiệp địa phương.‏

‏Trong chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững, An Giang đang định hướng xây dựng nền sản xuất xanh, giảm phát thải và nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản. Để hiện thực hóa mục tiêu này, dòng vốn tín dụng sẽ tiếp tục đóng vai trò “mạch máu” giúp khu vực kinh tế hợp tác nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị nông nghiệp hiện đại.‏

‏Khi dòng vốn được khơi thông đúng hướng, các HTX sẽ có thêm cơ hội đầu tư công nghệ, mở rộng liên kết và nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn. Xa hơn, đây không chỉ là câu chuyện hỗ trợ vốn cho HTX, mà còn là động lực thúc đẩy quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng nông nghiệp của An Giang theo hướng xanh, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.‏

TheoThị Trường Tài Chính Tiền Tệ

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.