Nhiều ngân hàng mở rộng gói vay ưu đãi
Làn sóng điều chỉnh lãi suất trong hệ thống ngân hàng tiếp tục diễn ra sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước. Theo thống kê của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, từ ngày 21/10 đến nay, có ít nhất 22 ngân hàng thương mại, trong đó có 1 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, cam kết giảm lãi suất cho vay. Mức giảm phổ biến từ 1,5 - 2%/năm so với lãi suất thông thường.
Một số ngân hàng đưa ra mức giảm sâu hơn như: Nam A Bank giảm tới 3,25%/năm, Vietcombank giảm tới 3%/năm đối với một số lĩnh vực cho vay ngắn hạn, trong khi Agribank và PVcomBank áp dụng mức giảm tới 2,5%/năm.
Bên cạnh việc điều chỉnh lãi suất cho vay, các ngân hàng tiếp tục công bố những chương trình tín dụng ưu đãi với quy mô lớn. Đáng chú ý, 15 ngân hàng thương mại đã công bố tổng hạn mức cho vay ưu đãi khoảng hơn 450.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 2,2% tổng dư nợ toàn hệ thống, ở mức 20,72 triệu tỷ đồng.
Tại SHB, quy mô các chương trình tín dụng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, khách hàng cá nhân và hộ kinh doanh được nâng lên 47.000 tỷ đồng. So với dư nợ cho vay khách hàng khoảng 648.300 tỷ đồng vào cuối quý II/2026, hạn mức này tương đương khoảng 7,2%.
Sacombank triển khai gói tín dụng ưu đãi lên tới 40.000 tỷ đồng dành cho khách hàng doanh nghiệp, với mức giảm lãi suất 2%/năm, mức lãi suất ưu đãi từ 8,5%/năm tùy điều kiện áp dụng. Tại ngày 30/6/2026, dư nợ cho vay khách hàng của ngân hàng đạt 636.029 tỷ đồng, tương đương quy mô gói tín dụng bằng khoảng 6,3% tổng dư nợ.
Trong khi đó, Nam A Bank dành tổng hạn mức hơn 25.000 tỷ đồng cho các chương trình tín dụng ưu đãi, tập trung vào những lĩnh vực như nông, lâm, thủy sản, hạ tầng, công nghệ số và xuất khẩu. Với dư nợ cho vay khách hàng 218.790 tỷ đồng vào cuối quý II/2026, quy mô các chương trình này tương đương hơn 11,4% tổng dư nợ.
Ở nhóm ngân hàng có quy mô chương trình nhỏ hơn, TPBank duy trì các gói tín dụng trị giá 8.000 tỷ đồng, hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp xuất nhập khẩu và doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ. MSB dành hạn mức 3.000 tỷ đồng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh; BVBank triển khai gói tín dụng ưu đãi 2.500 tỷ đồng, tập trung vào doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh cùng các lĩnh vực ưu tiên. Đặt cạnh dư nợ cho vay khách hàng vào cuối quý II/2026, quy mô các chương trình được công bố của TPBank, MSB và BVBank lần lượt tương đương khoảng 2,4%, 1,3% và 3%.
Nâng cao khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp và người dân
Đánh giá về diễn biến giảm lãi suất và mở rộng tín dụng ưu đãi, chuyên gia kinh tế Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi cho rằng, việc các ngân hàng đồng loạt công bố những chương trình tín dụng ưu đãi là nỗ lực đáng ghi nhận. Tuy nhiên, để tạo sức lan tỏa lớn hơn, các ngân hàng cần tiếp tục đẩy mạnh giảm lãi suất, mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp và người dân.
Theo ông Huy, áp lực lãi suất không chỉ xuất phát từ những khó khăn nội tại của nền kinh tế Việt Nam mà còn chịu tác động từ bối cảnh kinh tế thế giới. Lạm phát tại Mỹ vẫn dai dẳng, mặt bằng lãi suất quốc tế còn cao, tạo thêm sức ép đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ trong nước.
Ở góc độ doanh nghiệp, chi phí vốn thấp hơn có thể góp phần giảm áp lực tài chính, nhưng khả năng tiếp cận các chương trình ưu đãi còn phụ thuộc vào điều kiện vay và phương án sử dụng vốn. Vì vậy, theo ông Huy, ngân hàng cần rà soát chi phí, cải thiện quy trình, ứng dụng công nghệ và tiết giảm những khoản chi chưa cần thiết, đồng thời bảo đảm chất lượng dịch vụ và an toàn hoạt động.
Ông cũng cho rằng các ngân hàng cần chia sẻ lợi nhuận hợp lý với khách hàng đủ điều kiện, nhất là doanh nghiệp có phương án khả thi, dòng tiền rõ ràng và khả năng trả nợ phù hợp. Việc công khai điều kiện vay và mức giảm lãi suất sẽ giúp doanh nghiệp chủ động dự tính chi phí vốn.
Cũng đánh giá về nỗ lực giảm lãi suất của ngành Ngân hàng, TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng, đây là sự chia sẻ lợi ích và nỗ lực rất lớn nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh nguy cơ lạm phát vẫn hiện hữu, áp lực từ bên ngoài còn lớn.“Những nỗ lực của ngành Ngân hàng và các chủ thể trong lĩnh vực tài chính cần được đáp lại bằng nỗ lực của doanh nghiệp trong sử dụng vốn, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và tạo ra tăng trưởng tốt hơn”,TS. Lê Duy Bình nhấn mạnh.
Ông cũng đề nghị phát huy các nguồn lực khác của nền kinh tế, đặc biệt là thị trường vốn. Nguồn lực hỗ trợ tăng trưởng cần được huy động qua thị trường trái phiếu, nhất là trái phiếu doanh nghiệp và thị trường cổ phiếu, qua đó chia sẻ gánh nặng cung cấp nguồn lực tài chính cho nền kinh tế. Cùng với trách nhiệm sử dụng vốn hiệu quả hơn của doanh nghiệp, đây là điều kiện để những nỗ lực hiện nay phát huy hiệu quả trong trung hạn.
Dù làn sóng giảm lãi suất và mở rộng tín dụng ưu đãi đang lan rộng, doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận vốn. Thực tế này cũng được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn đề cập tại Hội nghị quán triệt, triển khai Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIV của Đảng ủy Ngân hàng Nhà nước tổ chức mới đây.
Thống đốc Phạm Đức Ấn cho biết, trong năm 2026, diễn biến kinh tế thế giới, giá năng lượng, chính sách thương mại và lãi suất của các nền kinh tế lớn tạo sức ép đối với công tác điều hành trong nước. Chính sách tiền tệ đã được điều hành chủ động, linh hoạt, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng, song áp lực lạm phát, tỷ giá và thị trường tiền tệ vẫn lớn.
Để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế năm 2026, 2027, nhất là mục tiêu tăng trưởng hai chữ số, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước yêu cầu điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa; theo dõi sát diễn biến trong nước và quốc tế để phản ứng kịp thời, hài hòa giữa hỗ trợ tăng trưởng, ổn định giá trị đồng tiền và bảo đảm an toàn hệ thống.
Cùng với đó, tín dụng cần hướng vào sản xuất, kinh doanh và các động lực tăng trưởng; tháo gỡ khó khăn trong tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, người dân, nâng cao hiệu quả phân bổ vốn. Việc mở rộng tín dụng phải gắn với chất lượng, kiểm soát rủi ro và an toàn hệ thống.
Đây cũng là yêu cầu đặt ra đối với các chương trình tín dụng ưu đãi đang được mở rộng: không chỉ công bố hạn mức và mức giảm lãi suất, mà còn phải bảo đảm vốn được phân bổ đúng nhu cầu, đến được với khách hàng đủ điều kiện và phục vụ hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, tính đến cuối tháng 9/2026, tổng vốn huy động của các ngân hàng trên cả nước đạt 19,5 triệu tỷ đồng, tăng 10,7% so cuối năm 2025; tín dụng toàn nền kinh tế đạt hơn 20,7 triệu tỷ đồng, tăng 11,7%.