T4 12/08/2026 · No. 081

Gỡ điểm nghẽn để biến lợi thế hấp thụ carbon của cao su thành giá trị thương mại

Gỡ điểm nghẽn để biến lợi thế hấp thụ carbon của cao su thành giá trị thương mại

Cao su là cây trồng dài ngày, có chu kỳ kinh doanh khoảng 25-35 năm, sinh khối lớn và có khả năng hấp thụ, lưu trữ carbon. Trong bối cảnh yêu cầu về giảm phát thải, sản xuất xanh và dấu chân carbon ngày càng được các thị trường quốc tế quan tâm, đây có thể trở thành một lợi thế mới của ngành cao su Việt Nam.

Tuy nhiên, lợi thế này vẫn chưa dễ dàng chuyển thành giá trị thương mại.

Tại hội thảo về cơ hội thị trường tín chỉ carbon đối với ngành cao su ngày 11/8, bà Nghiêm Phương Thúy, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho biết hiện có 2 hướng chính để thương mại hóa tín chỉ carbon là giao dịch quốc tế và giao dịch trong nước.

Với thị trường quốc tế, doanh nghiệp có thể tiếp cận các cơ chế hợp tác giữa các quốc gia theo Điều 6 Thỏa thuận Paris hoặc tham gia các tiêu chuẩn carbon tự nguyện. Trong nước, Việt Nam đã quy định cơ chế trao đổi, mua bán và bù trừ hạn ngạch phát thải; sàn giao dịch carbon trong nước được khởi động từ cuối tháng 6/2026.

Những bước đi này mở thêm cánh cửa để các ngành có khả năng giảm phát thải, hấp thụ và lưu trữ carbon tham gia thị trường. Với cao su, tiềm năng càng đáng chú ý bởi đặc thù sản xuất dài hạn và diện tích vườn cây lớn.

Gỡ vướng từ đất đai, quy hoạch

Theo ông Hoàng Bảo Luân, Phó Giám đốc Đội Khoa học - Công nghệ, Tổng công ty Cao su Đồng Nai (DONARUCO), doanh nghiệp đang quản lý khoảng 31.000 ha cao su, trong đó hơn 9.000 ha đã được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn VFCS/PEFC.

1786521428353_1926176634209187645_7880126682721493213_8c3fcbafb334d9a5bb4aac0e460e747a.jpg
Cây cao su có tiềm năng hấp thụ, lưu trữ carbon, song không phải toàn bộ lượng carbon lưu trữ đều có thể chuyển thành tín chỉ để giao dịch. Ảnh: Vũ Phong

Ông Luân cho biết, ngành cao su có nhiều lợi thế khi tiếp cận thị trường carbon, không chỉ bởi chu kỳ kinh doanh dài, sinh khối lớn mà còn bởi doanh nghiệp đã tích lũy hệ thống dữ liệu về lô trồng, tuổi cây, giống, phân bón, nhiên liệu và sản lượng trong nhiều năm.

Tuy nhiên, từ thực tiễn nghiên cứu xây dựng dự án carbon, doanh nghiệp lại gặp một loạt vấn đề cần được làm rõ.

Trước hết là tư cách pháp lý và phân loại đất. Phần lớn diện tích cao su của DONARUCO được Nhà nước cho thuê để trồng cây lâu năm, không phải đất lâm nghiệp. Do đó, doanh nghiệp cần được làm rõ cao su trên đất trồng cây lâu năm có thuộc đối tượng phù hợp với phương pháp quản lý rừng cải tiến hay không, cũng như doanh nghiệp thuê đất có đủ tư cách đăng ký dự án carbon hay không.

Theo ông Luân, rủi ro từ quy hoạch sử dụng đất cũng cần được tính đến. Một số diện tích cao su có thể được chuyển đổi mục đích sử dụng, trong khi dự án carbon thường yêu cầu thời gian duy trì dài.

Vì vậy, doanh nghiệp cần được hướng dẫn rõ trách nhiệm đối với lượng tín chỉ đã phát hành, chuyển giao nếu diện tích thực hiện dự án bị Nhà nước thu hồi hoặc thay đổi mục đích sử dụng.

Đây là vấn đề có ý nghĩa lớn đối với ngành cao su, bởi nếu chưa xác định rõ tính ổn định của diện tích đất trong thời gian dài, doanh nghiệp sẽ khó đưa ra quyết định đầu tư cho các dự án carbon.

Không phải cứ có carbon là có thể bán

Một điểm nghẽn khác là hiệu quả kinh tế. Theo DONARUCO, để hình thành một dự án tín chỉ carbon, doanh nghiệp phải thực hiện nhiều công đoạn như xây dựng dự án, đăng ký, đo đạc, báo cáo, thẩm định, xác minh và cấp tín chỉ. Với các dự án nhỏ, chi phí tư vấn, đo đạc và thẩm định có thể làm tăng đáng kể chi phí trên mỗi tín chỉ.

Từ thực tế này, DONARUCO đề xuất nghiên cứu xây dựng dự án carbon ở quy mô lớn, thậm chí cấp Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam, thay vì triển khai nhiều dự án nhỏ lẻ.

Theo doanh nghiệp, mô hình này có thể giúp chia sẻ chi phí tư vấn, đo đạc, thẩm định, xác minh và tạo sản lượng tín chỉ đủ lớn để cải thiện hiệu quả kinh tế.

Nhưng quy mô lớn chưa phải là điều kiện duy nhất để biến carbon thành hàng hóa.

TS. Vũ Tấn Phương, Giám đốc Trung tâm Chứng nhận quản lý rừng bền vững, lưu ý rằng không phải cứ có carbon trong cây là có tín chỉ. Dự án phải chứng minh được kết quả giảm phát thải hoặc tăng hấp thụ theo phương pháp phù hợp và được xác minh trước khi tín chỉ được cấp.

Đáng chú ý, với những diện tích cao su đã có sinh khối lớn và được quản lý tương đối tốt, dư địa tạo thêm tín chỉ từ sinh khối có thể không lớn.

Theo ông Phương, doanh nghiệp vì vậy cần xác định rõ mục tiêu của mình là kinh doanh tín chỉ carbon hay hướng tới sản xuất xanh, phát thải thấp để nâng cao thương hiệu. Hai mục tiêu này có cách tiếp cận khác nhau.

Điều này cũng cho thấy giá trị của carbon đối với ngành cao su không chỉ nằm ở việc bán tín chỉ.

Trong bối cảnh các khách hàng quốc tế ngày càng quan tâm đến dấu chân carbon của sản phẩm, việc giảm phát thải trong toàn bộ quá trình sản xuất có thể trở thành một lợi thế cạnh tranh trực tiếp.

1786521708736_1926176634209187645_7880126682721493213_c8522e9aaf30fd68bba0d9eb6e0746e3.jpg
Không phải cứ có carbon trong cây là có tín chỉ. ảnh: MH

TS. Vũ Tấn Phương cho rằng, cần phân biệt tín chỉ carbon với dấu chân carbon. Dấu chân carbon phải được tính trên toàn bộ chuỗi từ trồng, chăm sóc, khai thác, vận chuyển đến chế biến sản phẩm và phản ánh lượng phát thải trên một đơn vị sản phẩm. Đây ngày càng là yếu tố quan trọng đối với khả năng cạnh tranh của cao su Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Thực tế, yêu cầu về phát triển bền vững, EUDR, dấu chân carbon của sản phẩm xuất khẩu và các cam kết Net Zero trong chuỗi cung ứng đang tạo thêm động lực để doanh nghiệp cao su quan tâm đến giảm phát thải.

Ở góc độ này, việc quản trị carbon có thể đem lại giá trị lớn hơn một nguồn thu từ tín chỉ.

Doanh nghiệp có thể sử dụng quá trình giảm phát thải để cải thiện phương thức sản xuất, minh bạch hóa chuỗi cung ứng và nâng khả năng đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của khách hàng quốc tế.

Theo các chuyên gia, tín chỉ carbon có thể mở thêm một hướng tạo giá trị cho ngành cao su nhưng chưa nên được xem là nguồn thu ngắn hạn. Quan trọng hơn, quá trình quản trị carbon có thể thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi sang sản xuất xanh, phát thải thấp và nâng cao sức cạnh tranh.

Vì vậy, để biến lợi thế hấp thụ carbon của cây cao su thành giá trị thương mại, điều ngành cao su cần không chỉ là thị trường mua bán tín chỉ, mà còn là một hành lang pháp lý rõ ràng, hướng dẫn phù hợp với đặc thù cây cao su và những mô hình đủ quy mô để doanh nghiệp có thể tính toán được hiệu quả đầu tư.

Từ một lợi thế tự nhiên, carbon chỉ thực sự trở thành tài sản kinh tế khi doanh nghiệp có thể xác định, chứng minh, duy trì và thương mại hóa được giá trị đó. Đây cũng là bài toán mà ngành cao su cần giải quyết để không bỏ lỡ cơ hội từ thị trường carbon đang hình thành.

TheoThị Trường Tài Chính Tiền Tệ

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.