T4 05/08/2026 · No. 074

Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc Nhà nước lên 50% khi tính LDR: Cú hích thanh khoản, hạ nhiệt cuộc đua lãi suất huy động

Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc Nhà nước lên 50% khi tính LDR: Cú hích thanh khoản, hạ nhiệt cuộc đua lãi suất huy động

Ngày 30/7/2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) chính thức ban hành Quyết định số 1743/QĐ-NHNN, nâng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước (KBNN) được tính vào nguồn vốn huy động khi xác định tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) từ 20% lên 50%. Quy định mới này có hiệu lực trong vòng 2 năm (kéo dài đến hết ngày 31/7/2028), nhằm sửa đổi, bổ sung cho các quy định an toàn hoạt động ngân hàng trước đó.

Không chỉ dừng lại ở một điều chỉnh kỹ thuật thuần túy, bước đi này của Ngân hàng Nhà nước được đánh giá là giải pháp điều hành vô cùng linh hoạt và kịp thời. Trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng đang bỏ xa đà huy động vốn khiến thanh khoản chịu áp lực cục bộ, việc tối ưu hóa cách tính LDR sẽ giúp tháo gỡ "nút thắt" chỉ tiêu an toàn, hạ nhiệt cuộc đua lãi suất huy động, qua đó tạo thêm dư địa dồi dào để cung ứng vốn cho nền kinh tế.

anh-giao-dich-2.jpg
Ảnh minh họa

Tháo gỡ “nút thắt” kỹ thuật của chỉ số LDR

Trong nhiều năm qua, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (Loan to Deposit Ratio - LDR) luôn là một trong những chỉ tiêu an toàn quan trọng đối với các ngân hàng thương mại. Quy định này nhằm kiểm soát rủi ro thanh khoản, bảo đảm các tổ chức tín dụng không mở rộng tín dụng vượt quá khả năng huy động vốn.

Tuy nhiên, trên thực tế đã xuất hiện một nghịch lý. Dù nhiều ngân hàng, đặc biệt là nhóm ngân hàng thương mại nhà nước, đang nắm giữ lượng tiền gửi có kỳ hạn rất lớn của Kho bạc Nhà nước, nhưng theo quy định cũ chỉ có 20% khoản tiền gửi này được tính vào nguồn vốn huy động khi xác định LDR. Điều đó khiến phần lớn nguồn vốn chất lượng cao này gần như “đứng ngoài” chỉ tiêu an toàn, làm giảm đáng kể khả năng sử dụng vốn của các ngân hàng.

Từ ngày 1/8/2026, theo Quyết định 1743/QĐ-NHNN, tỷ lệ này được nâng lên 50% và áp dụng đến hết ngày 31/7/2028. Quy định mới đồng nghĩa với việc một nửa số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước sẽ được tính vào tổng nguồn vốn huy động khi xác định LDR, thay vì chỉ 20% như trước đây.

Về bản chất, đây không phải là việc nới lỏng các chuẩn mực an toàn hay bơm thêm tiền vào nền kinh tế, mà là điều chỉnh phương pháp phản ánh đúng hơn chất lượng của nguồn vốn có tính ổn định cao.

Cải thiện thanh khoản mà không cần bơm thêm tiền

Điểm đáng chú ý của chính sách là giúp cải thiện thanh khoản của hệ thống ngân hàng mà không làm tăng cung tiền.

Theo số liệu từ NHNN, đến cuối tháng 3/2026, KBNN gửi khoảng 626.700 tỷ đồng tại các tổ chức tín dụng, trong đó hơn 624.000 tỷ đồng tập trung chủ yếu tại 4 ngân hàng Agribank, BIDV, Vietcombank và VietinBank. Đây đều là những ngân hàng đang giữ vai trò chủ lực cung ứng tín dụng cho nền kinh tế.

Khi tỷ lệ được tính vào LDR tăng từ 20% lên 50%, quy mô nguồn vốn hợp lệ trong mẫu số của chỉ tiêu LDR được mở rộng đáng kể. Theo phân tích chỉ số LDR của nhiều ngân hàng lớn có thể giảm khoảng 1,5-3 điểm phần trăm, tạo thêm khoảng trống an toàn để mở rộng tín dụng mà vẫn tuân thủ quy định.

Đây là điểm khác biệt quan trọng, thay vì sử dụng các công cụ tiền tệ truyền thống để tăng thanh khoản, NHNN lựa chọn giải pháp tối ưu hóa bảng cân đối kế toán của các ngân hàng thông qua điều chỉnh một chỉ tiêu kỹ thuật.

Giảm áp lực cạnh tranh huy động vốn

Một trong những tác động lớn nhất của quy định mới là làm giảm động lực cạnh tranh lãi suất huy động.

Thời gian qua, nhiều ngân hàng phải duy trì lãi suất huy động ở mức cao không hẳn vì thiếu tiền, mà nhằm mở rộng quy mô nguồn vốn huy động để đáp ứng yêu cầu về LDR. Điều này làm gia tăng chi phí vốn đầu vào, thu hẹp dư địa giảm lãi suất cho vay.

Khi tiền gửi KBNN được ghi nhận nhiều hơn trong tính toán LDR, áp lực huy động vốn từ khu vực dân cư và doanh nghiệp sẽ giảm bớt. Các ngân hàng không còn phải chạy đua lãi suất chỉ để cải thiện chỉ tiêu an toàn.

Đáng chú ý, ngay trước thời điểm chính sách có hiệu lực, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng đã giảm mạnh, trong đó lãi suất cho vay qua đêm xuống khoảng 0,7%/năm, phản ánh kỳ vọng thanh khoản sẽ dồi dào hơn.

Việc giảm áp lực huy động không chỉ giúp ổn định mặt bằng lãi suất tiền gửi, mà còn tạo điều kiện để các ngân hàng giảm chi phí vốn, từ đó có thêm dư địa giảm lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp và người dân.

Mở rộng dư địa tín dụng nhưng không phải nới lỏng tiền tệ

Một điểm cần nhấn mạnh là quy định mới không đồng nghĩa với việc tín dụng sẽ tăng tự động.

GS,TS Nguyễn Đức Trung, Hiệu trưởng Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh nhận đính: Chính sách này chỉ tạo thêm điều kiện cần để mở rộng tín dụng. Việc giải ngân vẫn phụ thuộc vào khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, chất lượng dự án đầu tư và năng lực quản trị rủi ro của từng ngân hàng.

Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh đến ngày 10/7/2026, tăng trưởng tín dụng đạt 7,91%, trong khi huy động vốn mới tăng 6,07%, tạo ra khoảng cách lớn giữa tín dụng và nguồn vốn huy động.

Như vậy, thay vì mở rộng tín dụng bằng cách nới lỏng chính sách tiền tệ, NHNN lựa chọn giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn hiện có, vừa bảo đảm mục tiêu tăng trưởng, vừa giữ vững an toàn hệ thống.

Theo GS,TS Nguyễn Đức Trung, việc NHNN điều chỉnh kỹ thuật nhưng mang ý nghĩa chiến lược. Nnâng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của KBNN được tính vào LDR từ 20% lên 50% phản ánh tư duy điều hành ngày càng linh hoạt của NHNN. Chính sách không làm thay đổi lượng tiền trong nền kinh tế, mà tối ưu hóa cách thức sử dụng nguồn vốn hiện có, góp phần cải thiện thanh khoản, giảm áp lực huy động vốn và nâng cao hiệu quả truyền dẫn của chính sách tiền tệ. Tuy nhiên, để chính sách phát huy hiệu quả lâu dài, các ngân hàng vẫn cần quản trị chặt chẽ chênh lệch kỳ hạn, không phụ thuộc quá mức vào nguồn tiền gửi KBNN và tiếp tục nâng cao chất lượng tín dụng.

Hướng tới một thị trường tiền tệ ổn định hơn

Theo ThS. Nguyễn Thanh Hoàng, Phó Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) Chi nhánh An Giang chia sẻ, điều đáng ghi nhận là chính sách mới không chỉ mang lại lợi ích cho nhóm ngân hàng trực tiếp nhận tiền gửi KBNN mà còn có khả năng lan tỏa tới toàn bộ hệ thống thông qua thị trường liên ngân hàng.

Khi thanh khoản tại các ngân hàng lớn được cải thiện, khả năng điều hòa vốn giữa các tổ chức tín dụng sẽ linh hoạt hơn, qua đó giảm biến động chi phí vốn ngắn hạn và nâng cao hiệu quả truyền dẫn của chính sách tiền tệ. Đồng thời, cạnh tranh giữa các ngân hàng cũng có điều kiện chuyển dịch từ cuộc đua lãi suất sang cạnh tranh về chất lượng dịch vụ, năng lực quản trị và chuyển đổi số.

Trong bối cảnh nhu cầu vốn cho tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026 - 2030 vẫn rất lớn, việc điều chỉnh cách tính LDR cho thấy định hướng điều hành của NHNN không chạy theo mở rộng tín dụng bằng mọi giá, mà hướng tới sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực sẵn có. Đây là bước đi mang tính kỹ thuật nhưng có ý nghĩa chiến lược, góp phần củng cố thanh khoản, giảm áp lực huy động vốn và tạo nền tảng cho môi trường lãi suất ổn định hơn, qua đó hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững.

TheoThị Trường Tài Chính Tiền Tệ

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.