T6 18/09/2026 · No. 118

Làm sạch mã số thuế: Cần “lối ra” cho doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhiều năm

Làm sạch mã số thuế: Cần “lối ra” cho doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhiều năm
Làm sạch mã số thuế: Cần “lối ra” cho doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhiều năm (Ảnh minh họa)

Doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhưng mã số thuế vẫn “treo”

Chiến dịch “Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh” được Cục Thuế triển khai từ tháng 5/2026, với mục tiêu rà soát, chuẩn hóa cơ sở dữ liệu mã số thuế, đồng thời tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình quản lý, sử dụng mã số thuế. Quyết định 595/QĐ-CT ngày 8/5/2026 là một trong những văn bản đặt nền tảng cho chiến dịch; sau đó, Cục Thuế tiếp tục ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn triển khai.

Theo thông tin từ Cục Thuế (Bộ Tài chính), toàn quốc có 291.962 doanh nghiệp, tổ chức ở trạng thái ngừng hoạt động nhưng chưa đóng mã số thuế. Tính đến ngày 8/9, tỷ lệ xử lý danh sách doanh nghiệp, tổ chức ở trạng thái ngừng hoạt động nhưng chưa đóng mã số thuế trung bình đạt 36%.

Đằng sau con số trên là thực tế không phải doanh nghiệp nào ngừng kinh doanh cũng đồng thời hoàn tất đầy đủ các thủ tục về thuế và đăng ký doanh nghiệp. Một phần, do doanh nghiệp đã dừng hoạt động từ nhiều năm trước, trong bối cảnh người nộp thuế chưa có nhiều điều kiện thuận lợi để tiếp cận, cập nhật các quy định, chính sách mới như hiện nay. Có doanh nghiệp không còn doanh thu, không xuất hóa đơn, không có người lao động, thậm chí không còn tài sản hay hoạt động kinh doanh, nhưng trên hệ thống quản lý thuế vẫn chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế.

Theo chuyên gia về thuế, ông Trần Văn Quân - Chủ tịch Công ty TNHH Tư vấn Vietnam Laws (VNLAWS), CEO - Công ty Vietnam Tax Accounting Consultancy (VNTAC), một trong những điểm nghẽn phổ biến trong những trường hợp này là tình trạng “nghĩa vụ kê khai treo” qua nhiều năm.

Một doanh nghiệp có thể đã thực tế ngừng hoạt động, không phát sinh hóa đơn mua vào, bán ra, nhưng nếu chưa thực hiện đúng thủ tục tạm ngừng hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế thì về nguyên tắc, nghĩa vụ kê khai vẫn có thể tồn tại. “Không có doanh thu” không đồng nghĩa với “không phải nộp hồ sơ khai thuế”.

Vì vậy, có trường hợp doanh nghiệp đã ngừng hoạt động từ lâu nhưng vẫn còn trạng thái chưa hoàn tất nghĩa vụ trên hệ thống quản lý thuế. Hệ quả là doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng đã “chết” về mặt kinh tế nhưng vẫn “sống” trên hệ thống quản lý thuế. Sau nhiều năm, khi chủ doanh nghiệp muốn xử lý dứt điểm thì phải quay lại xử lý hàng loạt kỳ kê khai, vi phạm hành chính và dữ liệu phát sinh trong quá khứ.

Theo ông Quân, với những doanh nghiệp thực sự đã ngừng hoạt động trong thời gian dài, việc phải quay lại hoàn thiện từng nghĩa vụ phát sinh qua nhiều năm có thể làm gia tăng đáng kể chi phí tuân thủ, trong khi những dữ liệu này chưa chắc phản ánh đúng mức độ rủi ro thuế thực tế.

Trong bối cảnh Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, phương thức quản lý thuế ngày càng được định hướng theo quản lý dựa trên dữ liệu, mức độ tuân thủ và rủi ro. Do đó, việc “làm sạch” mã số thuế không chỉ là cập nhật trạng thái trên hệ thống, mà còn cần phân biệt giữa doanh nghiệp thực sự đã kết thúc hoạt động với những trường hợp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký nhưng vẫn có thể còn nghĩa vụ hoặc tiềm ẩn rủi ro thuế.

Có thể nghiên cứu cơ chế riêng, nhưng không miễn, giảm đại trà

Trước thực tế đó, vấn đề được nhiều người dân và các chuyên gia đặt ra là có cần một cơ chế xử lý riêng với những doanh nghiệp đã ngừng hoạt động 5-10 năm, thậm chí lâu hơn, không còn phát sinh hoạt động kinh doanh và qua xác minh không có dấu hiệu vi phạm.

Theo ông Trần Văn Quân, rất cần nghiên cứu cơ chế riêng, nhưng phải phân loại rõ đối tượng, không nên miễn, giảm đại trà. Theo đó, có thể xem xét một nhóm doanh nghiệp thực tế đã ngừng hoạt động nhiều năm, không phát sinh doanh thu, không sử dụng hóa đơn, không có dòng tiền kinh doanh đáng kể, không nợ thuế gốc hoặc đã hoàn thành nghĩa vụ thuế gốc và không có dấu hiệu mua bán hóa đơn, trốn thuế hay tẩu tán tài sản.

Với nhóm này, thay vì tiếp tục áp dụng một quy trình giống với doanh nghiệp đang hoạt động hoặc có rủi ro, có thể nghiên cứu một quy trình chấm dứt nhanh hơn, dựa trên dữ liệu mà cơ quan quản lý đã có.

Đặc biệt, ông Trần Văn Quân cho rằng, đối với các khoản phạt hành chính phát sinh thuần túy do không nộp hoặc chậm nộp các tờ khai “trắng” trong giai đoạn doanh nghiệp thực tế đã ngừng hoạt động, có thể nghiên cứu cơ chế miễn, giảm hoặc giới hạn mức xử lý, nhất là khi trường hợp đó không gây thất thu ngân sách.

“Đây là đề xuất chính sách, không phải cơ chế miễn, giảm đang được áp dụng đại trà. Do vậy, khi thiết kế chính sách này cần phải được quy định bằng văn bản quy phạm pháp luật có thẩm quyền, bởi cơ quan thuế địa phương không thể tự quyết định miễn một khoản phạt mà pháp luật chưa cho phép”, ông Trần Văn Quân cho biết.

Ông Quân cho rằng, có thể nghiên cứu xây dựng một “cửa sổ tuân thủ” có thời hạn. Doanh nghiệp thuộc nhóm cần xử lý chủ động khai báo, hoàn thiện thủ tục trong khoảng thời gian nhất định. Nếu đáp ứng đầy đủ các tiêu chí về mức độ rủi ro thì có thể được áp dụng thủ tục rút gọn và chính sách xử lý vi phạm phù hợp. Ngược lại, những doanh nghiệp còn nợ thuế thực tế hoặc có dấu hiệu gian lận, mua bán hóa đơn, trốn thuế, tẩu tán tài sản vẫn phải được xử lý đầy đủ theo quy định.

Cách tiếp cận này nhằm tránh hai thái cực: một bên là “xóa hết” nghĩa vụ, làm suy giảm kỷ luật thuế; bên kia là tiếp tục cộng dồn thủ tục và tiền phạt đối với một doanh nghiệp đã không còn hoạt động thực tế, khiến doanh nghiệp càng khó hoàn tất việc rời thị trường.

Thực tế, yêu cầu đẩy nhanh xử lý hồ sơ và giảm các thủ tục không cần thiết cũng đã được Cục Thuế nhấn mạnh trong Công văn 6736/CT-NVT ngày 11/9/2026. Theo đó, với hồ sơ đã đủ căn cứ, cơ quan thuế phải giải quyết ngay; không yêu cầu thêm hồ sơ, tài liệu không có căn cứ và không hướng dẫn nhiều lần không đúng quy định. Đối với hồ sơ giải thể, chấm dứt hoạt động đã hoàn thành nghĩa vụ thuế, thời hạn ban hành thông báo xác nhận được yêu cầu là 3 ngày làm việc. Cùng với đó, tinh thần này cho thấy việc xử lý mã số thuế đang được đặt trong yêu cầu lớn hơn là giảm chi phí tuân thủ và tháo gỡ điểm nghẽn cho doanh nghiệp.

Để dữ liệu “nói thay” doanh nghiệp

Một vấn đề khác cần được tính đến là cách thức xác định doanh nghiệp có thực sự không còn hoạt động hay không. Theo ông Trần Văn Quân, cần chuyển dần từ cách tiếp cận “doanh nghiệp chứng minh” sang “cơ quan quản lý khai thác dữ liệu”. Một doanh nghiệp đã ngừng hoạt động 5-10 năm rất khó tìm lại kế toán cũ, chữ ký số, chứng từ hoặc người đại diện. Trong khi đó, cơ quan quản lý đã có nhiều nguồn dữ liệu như hóa đơn điện tử, tờ khai thuế, nghĩa vụ thuế…

“Nếu các dữ liệu này cho thấy doanh nghiệp thực sự không còn hoạt động và không có dấu hiệu rủi ro, việc tiếp tục yêu cầu doanh nghiệp chứng minh lại những thông tin Nhà nước đã có sẽ làm tăng chi phí tuân thủ. Ngược lại, nếu dữ liệu cho thấy doanh nghiệp vẫn có hoạt động, doanh thu, sử dụng hóa đơn hoặc có dấu hiệu bất thường thì việc kiểm tra, xử lý vẫn cần được thực hiện đầy đủ”, ông Trần Văn Quân lý giải.

Từ đó, ông Quân cho rằng, bài toán làm sạch mã số thuế không chỉ là “đóng” được bao nhiêu mã số thuế, mà quan trọng hơn là đưa trạng thái trên hệ thống về đúng với thực tế và thiết lập một cơ chế rời thị trường phù hợp với từng mức độ rủi ro.

Với nhóm doanh nghiệp đã thực sự kết thúc hoạt động, một “lối ra” rõ ràng, có thời hạn và có điều kiện sẽ vừa giúp giảm chi phí tuân thủ, vừa giúp cơ quan quản lý dành nguồn lực cho những trường hợp thực sự có rủi ro về thuế.

TheoThị Trường Tài Chính Tiền Tệ

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.