Đầu tư công nghệ là yêu cầu bắt buộc
Phóng viên:Ông đánh giá thế nào về năng lực chế tạo máy móc, thiết bị phục vụ chế biến sâu của Việt Nam hiện nay? Việc đầu tư công nghệ và máy móc nhập khẩu đòi hỏi nguồn vốn như thế nào?
Ông Tạ Quang Huyên:Phần lớn các thiết bị chủ lực tại nhà máy của chúng tôi đều phải nhập khẩu, bởi Việt Nam chưa có ngành công nghiệp chuyên sản xuất các loại máy móc này. Do đó, chúng ta chưa thể tự chế tạo những dây chuyền đáp ứng yêu cầu chế biến sâu hiện đại.
Trong khi đó, các máy móc chế biến truyền thống tại những cơ sở nhỏ chưa bảo đảm đầy đủ yêu cầu về vệ sinh, an toàn thực phẩm. Vì vậy, chúng tôi lựa chọn đầu tư thiết bị nhập khẩu với công nghệ hiện đại. Có những máy móc trị giá khoảng 2 triệu USD.
Riêng hệ thống kiểm soát độ ẩm tại khu vực đóng gói, chúng tôi đã đầu tư hơn 2 triệu USD, tương đương khoảng 77 tỷ đồng vào 3-4 năm trước. Nếu tính theo giá mặt bằng hiện nay, khoản đầu tư này có thể lên đến hàng trăm tỷ đồng. Nhìn chung, chi phí đầu tư cho công nghệ chế biến sâu rất lớn.
Thuận lợi của chúng tôi là nhận được sự hỗ trợ tích cực từ các ngân hàng nên có điều kiện mạnh dạn đầu tư đồng bộ, không làm nửa vời.
Đối với những thiết bị phụ trợ, ban đầu chúng tôi cũng phải nhập khẩu. Sau đó, đội ngũ cơ khí của công ty sẽ nghiên cứu, cải tiến và chế tạo các thiết bị thay thế để dự phòng. Qua quá trình đó, doanh nghiệp từng bước làm chủ thêm công nghệ và thiết bị phục vụ sản xuất.
Phóng viên:Đồng Nai hiện có nhiều doanh nghiệp chế biến điều nhân và được xem là trung tâm chế biến nhân điều của Việt Nam. Ông nhìn nhận thế nào về lợi thế này?
Ông Tạ Quang Huyên:Nếu xét về chế biến thô, Việt Nam thực sự là một trung tâm chế biến điều lớn của thế giới. Tuy nhiên, lợi thế này đang có dấu hiệu chững lại.
Các doanh nghiệp và nhà đầu tư từ châu Phi sang Việt Nam ngày càng nhiều. Họ mua máy móc, tìm hiểu quy trình và học hỏi kinh nghiệm chế biến điều nhân của doanh nghiệp Việt Nam. Càng tiếp cận với Việt Nam, họ càng hiểu rõ cách chúng ta tổ chức sản xuất, qua đó thúc đẩy năng lực chế biến trong nước họ.
Hiện nay, các quốc gia châu Phi đều có xu hướng giữ lại nguồn điều thô và khuyến khích phát triển công nghiệp chế biến điều nhân để gia tăng giá trị sản phẩm.
Tôi cho rằng ngành chế biến điều thô của Việt Nam có thể còn duy trì được vị thế trong một thời gian nữa, chưa thể suy giảm ngay lập tức. Tuy nhiên, để tiếp tục tăng trưởng mạnh như trước đây sẽ rất khó khăn.
Phát triển chế biến sâu phải gắn với thị trường xuất khẩu
Phóng viên:Ngoài Hoàng Sơn 1, hiện nay có nhiều doanh nghiệp Việt Nam đầu tư chế biến sâu và đưa sản phẩm vào các hệ thống siêu thị lớn hay chưa, thưa ông?
Ông Tạ Quang Huyên:Thực tế, số doanh nghiệp Việt Nam đầu tư chế biến sâu để sản xuất sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn của các hệ thống siêu thị lớn hiện chưa nhiều.
Theo quan sát của tôi, có khoảng 3 doanh nghiệp lớn đang đầu tư chế biến và xuất khẩu sản phẩm vào các hệ thống siêu thị lớn. Trong đó có Olam, doanh nghiệp có chủ sở hữu Singapore, và Công ty CP Thực phẩm Dân Ôn của ông Ôn Dân Khương. Ông Khương là người Canada, đã đầu tư vào Việt Nam từ năm 1998. Gia đình ông cũng có truyền thống kinh doanh trong lĩnh vực này từ nhiều thập niên trước.
Xét doanh nghiệp do người Việt Nam đầu tư chế biến sâu để sản xuất sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của hệ thống siêu thị, tôi cho rằng Hoàng Sơn 1 hiện là một trong những doanh nghiệp tiên phong.
Phóng Viên:Ông cho biết đầu tư chế biến sâu đòi hỏi nguồn vốn rất lớn. Ngoài vấn đề vốn, doanh nghiệp còn gặp những hạn chế nào? Ông có kiến nghị gì để thúc đẩy lĩnh vực này phát triển?
Ông Tạ Quang Huyên:Khó khăn không chỉ nằm ở nguồn vốn ban đầu. Muốn đưa sản phẩm vào hệ thống siêu thị, doanh nghiệp phải xây dựng được thương hiệu và tạo dựng niềm tin với nhà phân phối. Đây là một quá trình rất khó khăn, đòi hỏi thời gian và sự kiên trì.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải có thị trường đủ lớn để phát triển. Nếu chỉ dựa vào thị trường trong nước thì dư địa không nhiều, bởi hiện nay đã có rất nhiều doanh nghiệp cùng cạnh tranh. Khi thị trường không mở rộng mà số lượng nhà sản xuất tiếp tục tăng, tất cả sẽ phải chia sẻ một thị phần vốn đã hạn chế.
Vì vậy, chúng ta phải hướng đến xuất khẩu. Đây cũng là định hướng phù hợp với chủ trương phát triển sản xuất hàng xuất khẩu của Nhà nước. Chỉ khi tiếp cận được thị trường quốc tế, doanh nghiệp mới có không gian đủ lớn để mở rộng quy mô và phát triển bền vững.
Tuy nhiên, để sản phẩm thực phẩm có xuất xứ từ Việt Nam được các hệ thống siêu thị nước ngoài chấp nhận, doanh nghiệp phải vượt qua một rào cản rất lớn về niềm tin. Làm thế nào để nhà phân phối tin tưởng chất lượng sản phẩm, để người tiêu dùng nước ngoài yên tâm lựa chọn hàng hóa Việt Nam là cả một quá trình.
Khó khăn không có nghĩa là chúng ta không thể làm được. Các nền kinh tế như Hàn Quốc, Nhật Bản hay Đài Loan trước đây cũng từng trải qua nhiều khó khăn. Không có quốc gia nào tự nhiên trở nên giàu có mà không phải trải qua quá trình nỗ lực, đầu tư và phát triển từng bước.
Trong quá trình đó, những doanh nghiệp đi tiên phong có thể thành công hoặc thất bại. Nhưng nếu không có những người dám đi trước thì ngành hàng khó có thể tạo ra bước chuyển biến mới.
Phóng viên:Mục tiêu của ngành điều đến năm 2030 là đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm điều chế biến sâu. Ông nhận thấy những thay đổi nào trong chính sách hỗ trợ doanh nghiệp thời gian gần đây?
Ông Tạ Quang Huyên:Gần đây, đại diện Sở Công Thương đã đến thăm doanh nghiệp và trao đổi về chủ trương của Đảng, Nhà nước, Chính phủ cũng như tỉnh Đồng Nai trong việc thúc đẩy công nghiệp chế biến nói chung và chế biến sâu nói riêng. Mục tiêu là tạo ra chuyển biến mới cho địa phương và đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước.
Chúng tôi cũng chia sẻ rằng Hoàng Sơn 1 đã đầu tư vào chế biến sâu và sẽ tiếp tục mở rộng trong thời gian tới. Tuy nhiên, trước mắt, doanh nghiệp phải khai thác hết công suất của nhà máy hiện hữu rồi mới tính đến những bước đầu tư tiếp theo.
Phóng viên:Côngsuất chế biến sâu hiện nay của Hoàng Sơn 1 là bao nhiêu? Nhà máy đang khai thác ở mức nào?
Ông Tạ Quang Huyên:Công suất thiết kế tối đa của nhà máy là 300 container mỗi tháng. Hiện nay, chúng tôi đang vận hành khoảng 50% công suất.
Về chính sách, doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu, vật tư để sản xuất hàng xuất khẩu được hưởng thuế nhập khẩu 0%. Đây là chính sách thiết thực nhằm khuyến khích sản xuất và xuất khẩu.
Nhà nước có thể không thu thuế nhập khẩu đối với những nguyên liệu phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu, nhưng đổi lại, khi ngành hàng phát triển, doanh nghiệp xuất khẩu sẽ mang về nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước.
Nguồn ngoại tệ dồi dào và cán cân thương mại thặng dư giúp tăng dự trữ ngoại hối, tạo điều kiện để nền kinh tế có khả năng chống chịu tốt hơn trước những biến động. Ngược lại, khi thiếu ngoại tệ, nhu cầu mua ngoại tệ tăng lên có thể gây áp lực lên tỷ giá. Chi phí nhập khẩu xăng dầu, nguyên liệu và hàng hóa cũng tăng, từ đó tạo thêm áp lực lạm phát.
Do đó, phát triển sản xuất hàng xuất khẩu không chỉ mang lại lợi ích cho doanh nghiệp, mà còn góp phần củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô.
An toàn thực phẩm và nghiên cứu thị trường quyết định khả năng tiếp cận
Phóng viên:Khibắt đầu xuất khẩu các sản phẩm điều có giá trị gia tăng cao sang những thị trường như Mỹ, Canada và các nước khác, doanh nghiệp gặp những khó khăn gì?
Ông Tạ Quang Huyên:Khó khăn lớn nhất là làm thế nào để tiếp cận và được khách hàng chấp nhận sản phẩm của mình.
Muốn làm được điều đó, doanh nghiệp phải có sự chuẩn bị từ trước, nhưng chuẩn bị thôi vẫn chưa đủ. Quan trọng hơn là phải thuyết phục được đối tác, tạo dựng niềm tin để họ sẵn sàng lựa chọn sản phẩm.
Bên cạnh năng lực sản xuất, doanh nghiệp cần chú trọng khả năng truyền thông, giới thiệu và chứng minh chất lượng sản phẩm với khách hàng. Đặc biệt, vấn đề vệ sinh, an toàn thực phẩm phải được đặt lên hàng đầu.
Thứ hai, doanh nghiệp phải nghiên cứu kỹ thị trường để hiểu nhu cầu của từng nhóm khách hàng, từ đó phát triển sản phẩm phù hợp. Không thể chỉ sản xuất những gì mình có rồi tìm cách bán ra thị trường, mà phải biết thị trường cần gì để tổ chức sản xuất.
Công tác nghiên cứu và phát triển sản phẩm (R&D) cũng rất quan trọng. Khi nghiên cứu một sản phẩm mới, doanh nghiệp phải thử nghiệm và đánh giá khả năng chấp nhận của thị trường. Tuy nhiên, không nên phát triển sản phẩm hoàn toàn tách rời nhu cầu thực tế. Trước hết, cần dựa trên nền tảng những dòng sản phẩm đã được thị trường đón nhận, sau đó từng bước cải tiến, đa dạng hóa và phát triển sản phẩm mới.
Đó là cách để doanh nghiệp vừa hạn chế rủi ro trong đầu tư, vừa nâng cao khả năng đưa sản phẩm chế biến sâu đến với người tiêu dùng trong và ngoài nước.
Phóng viên:Xin trântrọng cảm ơn ông!