Theo Quyết định, Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số là căn cứ để xây dựng, phát triển, nâng cấp và vận hành hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số của các cơ quan, tổ chức trong toàn bộ hệ thống chính trị; bảo đảm đồng bộ, thống nhất, kết nối, liên thông, chia sẻ, sử dụng chung, kế thừa tối đa các thành phần hiện có phù hợp, tránh đầu tư phân tán, trùng lặp, lãng phí và đáp ứng yêu cầu phát triển, ứng dụng các công nghệ mới trong tương lai.
Hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ người dân, doanh nghiệp
Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số (phiên bản 1.0) (gọi tắt là Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số) được xây dựng nhằm khái quát mô hình kiến trúc số tổng thể cho quốc gia, trong đó xác định những thành phần dùng chung, cơ bản nhất cho các cơ quan trong hệ thống chính trị các cấp; bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư trong quá trình kết nối, chia sẻ, khai thác dữ liệu số; bảo đảm kết nối, chia sẻ, dùng chung tài nguyên, dữ liệu; tránh trùng lặp đầu tư trên quy mô quốc gia; đồng thời hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ người dân, doanh nghiệp; thống nhất các Khung kiến trúc, kiến trúc hiện có; phát triển các nền tảng số, cơ sở dữ liệu dùng chung quốc gia; giúp tránh đầu tư trùng lặp, tiết kiệm chi phí; tăng tính minh bạch thông qua dữ liệu mở, tăng cường trách nhiệm giải trình và sự tham gia của xã hội; tăng mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp.
Về phạm vi áp dụng, Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số áp dụng đối với:
Việc xây dựng, cập nhật, quản lý và tổ chức triển khai Khung kiến trúc số của cơ quan Đảng, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Khung kiến trúc Chính phủ số (được tổ chức triển khai thông qua Khung kiến trúc Chính phủ số cấp bộ và Khung kiến trúc Chính quyền số cấp tỉnh) và Khung kiến trúc số của các cơ quan, tổ chức khác trong hệ thống chính trị.
Việc đầu tư, xây dựng, nâng cấp, phát triển, vận hành, kết nối, chia sẻ, khai thác và sử dụng chung hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số theo quy định của pháp luật.
Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số kế thừa đầy đủ các nội dung của 7 nguyên tắc cốt lõi tại Quy định số 05-QĐ/BCĐTW; đồng thời cập nhật, bổ sung để phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan và yêu cầu triển khai trong giai đoạn tới, cụ thể như sau:
Nguyên tắc 1. Quản trị trên cơ sở định lượng, đo lường và kiểm chứng được kết quả
Mục tiêu cao nhất và thước đo thành công của từng hợp phần trong Mô hình là tạo ra kết quả thực chất, có thể định lượng, đo lường và kiểm chứng được.
Nguyên tắc 2. Lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu theo thời gian thực
Dữ liệu được quản trị thống nhất trên phạm vi quốc gia theo nguyên tắc "đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung"; được chuẩn hóa, kết nối, chia sẻ, khai thác và điều phối theo quy định của pháp luật.
Nguyên tắc 3.Vận hành thông minh và tự động hóa trên cơ sở ưu tiên ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI First)
Mô hình được thiết kế theo hướng ưu tiên xem xét, tích hợp trí tuệ nhân tạo và công nghệ tự động hóa vào các quy trình nghiệp vụ phù hợp, trên cơ sở đáp ứng điều kiện pháp lý, dữ liệu, kỹ thuật, an toàn và quản trị rủi ro.
Nguyên tắc 4. Phân cấp, phân quyền mạnh mẽ trên nền tảng số
Trung ương tập trung vào vai trò kiến tạo thể chế, ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, xây dựng và vận hành các nền tảng số dùng chung, đồng thời thực hiện chức năng giám sát việc tổ chức thực hiện dựa trên dữ liệu.
Nguyên tắc 5.Lấy người dùng làm trung tâm với hệ sinh thái dịch vụ hợp nhất
Kiên quyết chấm dứt tình trạng phân mảnh, rời rạc trong trải nghiệm của người dân và doanh nghiệp khi tương tác với cơ quan nhà nước, cổng Dịch vụ công quốc gia và ứng dụng định danh điện tử VNelD phải được phát triển thành hệ sinh thái thống nhất, đồng bộ, liên thông, liền mạch với thiết kế bao trùm, bảo đảm khả năng tiếp cận cho mọi đối tượng, nhất là người yếu thế; tích hợp các tính năng hỗ trợ cần thiết như hướng dẫn bằng giọng nói, hỗ trợ ngôn ngữ dân tộc thiểu số.
Nguyên tắc 6.Bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư là yêu cầu tiên quyết, xuyên suốt
Bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư phải được xác định là yêu cầu tiên quyết, xuyên suốt trong toàn bộ vòng đời của hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số, từ giai đoạn thiết kế, xây dựng, triển khai, vận hành, nâng cấp đến kết thúc sử dụng.
Nguyên tắc 7. Thúc đẩy phát triển dữ liệu mở, nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và đổi mới sáng tạo
Các nguyên tắc gắn bó chặt chẽ, bổ trợ lẫn nhau, tạo thành một thể thống nhất. Trong đó, bảo đảm an ninh mạng (Nguyên tắc 6) là nền tảng để các nguyên tắc còn lại có thể được triển khai một cách tin cậy và bền vững. Trên nền tảng an toàn đó, lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu (Nguyên tắc 2) chỉ khả thi khi có hệ thống vận hành thông minh, tự động thu thập dữ liệu (Nguyên tắc 3). Dữ liệu thu thập được cho phép Trung ương giám sát hiệu quả, từ đó phân cấp, phân quyền cho địa phương (Nguyên tắc 4). Hiệu quả của việc phân quyền và toàn bộ mô hình được đo lường bằng kết quả thực chất (Nguyên tắc 1), hướng đến sự hài lòng cho người dân và doanh nghiệp thông qua một hệ sinh thái hợp nhất, lấy người dùng làm trung tâm (Nguyên tắc 5). Niềm tin của người dùng đối với hệ sinh thái lại được củng cố bởi sự bảo đảm về an ninh mạng (Nguyên tắc 6). Trên cơ sở đó, việc công khai, chia sẻ, mở dữ liệu (Nguyên tắc 7) không chỉ tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình mà còn thúc đẩy đổi mới sáng tạo, khai thác tối đa giá trị từ dữ liệu, tạo thành một vòng tuần hoàn khép kín và liên tục được hoàn thiện.
Ưu tiên bố trí đầy đủ nguồn lực thực hiện quyết liệt các nhiệm vụ trong Kế hoạch Nghị quyết
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền tập trung tổ chức thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp nhằm triển khai hiệu quả Kế hoạch Nghị quyết và Nghị quyết số 1796/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, trong đó lưu ý:
a) Xây dựng và ban hành kế hoạch cụ thể, ưu tiên bố trí đầy đủ nguồn lực tài chính và nhân lực để thực hiện quyết liệt các nhiệm vụ cụ thể trong Kế hoạch Nghị quyết; chỉ đạo triển khai ngay các giải pháp, nhiệm vụ theo chức năng, thẩm quyền, phù hợp với điều kiện thực tế ở từng ngành, lĩnh vực và địa phương; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, giám sát, bảo đảm thực hiện đúng tiến độ, chất lượng các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp trong Kế hoạch Nghị quyết; định kỳ báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ gửi Bộ Giáo dục và Đào tạo trước ngày 10/12 hằng năm để tổng hợp, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
b) Tập trung triển khai thực hiện hiệu quả các chương trình, đề án đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt liên quan đến phát triển và sử dụng nguồn nhân lực nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; đào tạo nhân lực cho các ngành, lĩnh vực ưu tiên, công nghệ cao, công nghệ chiến lược, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo; thu hút, trọng dụng nhân tài và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới.
Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương xây dựng kế hoạch cụ thể triển khai thực hiện nhiệm vụ, trong đó cụ thể hóa các nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch này và Nghị quyết số 1796/NQ-UBTVQH15, phân công các nhiệm vụ theo tinh thần "6 rõ: rõ người, rõ việc, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ sản phẩm"; đồng thời triển khai thực hiện hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo; chủ trì theo dõi, đôn đốc việc triển khai thực hiện và định kỳ báo cáo và kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các biện pháp cần thiết để bảo đảm thực hiện đồng bộ và có hiệu quả Kế hoạch Nghị quyết; bám sát các nội dung liên quan trong chương trình làm việc của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Quốc hội để thực hiện việc báo cáo theo quy định.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, các bộ, cơ quan liên quan theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền chỉ đạo các cơ quan báo chí, hệ thống thông tin cơ sở tuyên truyền các nội dung của Kế hoạch Nghị quyết nhằm nâng cao nhận thức, tạo đồng thuận xã hội, phát huy tinh thần trách nhiệm của người đứng đầu, nỗ lực của các ngành, các cấp, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân để thực hiện nhiệm vụ, giải pháp tại Kế hoạch Nghị quyết và Nghị quyết số 1796/NQ-UBTVQH15.
Trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện Kế hoạch Nghị quyết, trường hợp cần sửa đổi, bổ sung những nội dung cụ thể, các bộ, cơ quan, địa phương chủ động rà soát, đề xuất, gửi Bộ Giáo dục và Đào tạo để tổng hợp và báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.