Vấn đề được đề cập tại Hội thảo “Xác lập mô hình tăng trưởng mới gắn với mục tiêu tăng trưởng hai con số, đổi mới mô hình phát triển kinh tế dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở Việt Nam giai đoạn 2026-2030” do Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (NIEF), Bộ Tài chính tổ chức ngày 8/9,
Mô hình cũ không phù hợp
Phát biểu khai mạc, ông Nguyễn Quốc Anh, Phó Viện trưởng NIEF, cho rằng giai đoạn 2021-2025, nền kinh tế duy trì được ổn định vĩ mô và các động lực tăng trưởng, song những hạn chế của mô hình tăng trưởng cũng bộc lộ rõ hơn. Tăng trưởng vẫn dựa nhiều vào vốn, tài nguyên và lao động; hiệu quả phân bổ, sử dụng nguồn lực chưa cao; đóng góp của năng suất, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa tương xứng với tiềm năng.
Theo ông Nguyễn Quốc Anh, dư địa của một số động lực truyền thống đang thu hẹp, trong khi cạnh tranh quốc tế ngày càng dựa nhiều hơn vào công nghệ, năng suất, nguồn nhân lực và khả năng tham gia các chuỗi giá trị có giá trị gia tăng cao. Do đó, mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ đặt ra yêu cầu về tốc độ mà quan trọng hơn là phải thay đổi cách thức tạo ra tăng trưởng, từ gia tăng đầu vào sang dựa ngày càng nhiều hơn vào năng suất, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Nhìn từ các chỉ số cụ thể, bà Lê Thị Mai Liên, Trưởng ban Kinh tế vĩ mô và Dự báo, NIEF, cho biết đóng góp của TFP vào tăng trưởng giai đoạn 2021-2025 đạt khoảng 47%, vượt mục tiêu 45%, trong khi tỷ lệ đầu tư toàn xã hội khoảng 33% GDP. Tuy nhiên, tốc độ tăng năng suất lao động chỉ đạt 5,2%/năm, thấp hơn mục tiêu trên 6,5%; kinh tế số đạt 14,02% GDP và hệ số ICOR còn cao, ở mức 6,43.
Bà Liên đánh giá giai đoạn 2021-2025 mới chủ yếu nâng cấp cơ cấu theo chiều rộng, trong khi giai đoạn 2026-2030 phải chuyển sang nâng cấp theo chiều sâu, tức chuyển nguồn lực vào những ngành có năng suất, công nghệ và giá trị gia tăng cao.
Từ đó, định hướng được đặt ra là chuyển từ mô hình dựa vào vốn, lao động giá rẻ, gia công và tài nguyên sang mô hình dựa vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu và năng suất lao động. Mục tiêu đến năm 2030 là kinh tế số đạt 30% GDP, công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 28% GDP, năng suất lao động tăng khoảng 8,5%/năm và đóng góp của TFP trên 55%.
Từ tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu
Sự thay đổi mô hình tăng trưởng đặt ra một yêu cầu mới đối với nguồn lực tài chính: không chỉ huy động được nhiều vốn hơn mà phải nâng hiệu quả của từng đồng vốn.
Đây là vấn đề đáng chú ý khi hệ số ICOR của nền kinh tế vẫn ở mức 6,43. Trong khi đó, mục tiêu cho giai đoạn tới là vừa duy trì tỷ lệ đầu tư toàn xã hội khoảng 40% GDP, vừa đưa ICOR xuống khoảng 4-4,6 lần. Theo TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, đây là một trong những điều kiện để chuyển trọng tâm từ vốn và lao động sang TFP.

Theo TS. Cấn Văn Lực, Việt Nam cần thực hiện đồng thời đầu tư, hấp thụ và đổi mới sáng tạo, thay vì đi theo tuần tự. Trọng tâm của mô hình mới là nâng đóng góp của TFP thông qua khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, giáo dục - đào tạo, hiệu quả thị trường, hạ tầng và thể chế.
Như vậy, bài toán vốn của giai đoạn 2026-2030 không còn đơn thuần là “có bao nhiêu vốn”, mà là “vốn đi vào đâu và tạo ra bao nhiêu giá trị”. Nếu nguồn lực tiếp tục được phân bổ dàn trải hoặc tập trung vào những khu vực có hiệu quả thấp, việc gia tăng đầu tư có thể không tạo ra mức tăng trưởng tương xứng.
Khi thị trường tài chính phải dẫn vốn vào động lực mới
Từ góc độ chính sách, bà Lê Thị Mai Liên đề xuất sử dụng nhiều công cụ để tạo nguồn lực cho các động lực tăng trưởng mới. Trong đó có Quỹ đầu tư phát triển công nghệ chiến lược, với Nhà nước làm vốn mồi và chia sẻ rủi ro; áp dụng mua sắm công đổi mới sáng tạo để Nhà nước trở thành khách hàng đầu tiên đối với sản phẩm công nghệ nội địa; đồng thời xây dựng cơ chế sandbox và chấp nhận rủi ro trong hoạt động R&D.
Cùng với đó, việc phát triển doanh nghiệp quy mô lớn, xây dựng thị trường dữ liệu quốc gia và chương trình quốc gia về AI hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng được đặt ra nhằm hình thành những lực lượng sản xuất mới.
Ông Nguyễn Quốc Anh nhấn mạnh cơ cấu lại đầu tư, hệ thống tài chính và doanh nghiệp cần trở thành trọng tâm của quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng. Đồng thời, cần phát huy mạnh hơn vai trò của khu vực tư nhân, nâng cao chất lượng FDI và tăng liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước.
Trong khi đó, TS. Cấn Văn Lực cho rằng cải cách thị trường tài chính cần được triển khai gắn với yêu cầu huy động và phân bổ nguồn lực, đồng thời duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và điều chỉnh giảm lãi suất có trọng tâm cho các lĩnh vực ưu tiên. Nâng cao chất lượng tăng trưởng, giảm ICOR và tăng năng suất lao động phải đi cùng với cải cách thị trường tài chính.

Đáng chú ý, theo tính toán được trình bày tại hội thảo, các động lực tăng trưởng mới có thể giúp GDP tăng thêm khoảng 2,8-3,7 điểm phần trăm mỗi năm. Trong đó, khoa học công nghệ và chuyển đổi số có thể đóng góp thêm 0,8-1,2 điểm phần trăm; cải cách thể chế 0,3-0,7 điểm phần trăm; thúc đẩy các đầu tàu và liên kết vùng 0,5-0,8 điểm phần trăm; chuyển đổi xanh 0,2-0,3 điểm phần trăm và xử lý các dự án tồn đọng, khơi thông nguồn lực 0,3-0,7 điểm phần trăm.
Nhìn từ góc độ tài chính, đây chính là sự chuyển dịch từ mở rộng quy mô vốn sang nâng chất lượng dòng vốn. Thị trường tài chính không chỉ cần cung cấp thêm nguồn lực cho nền kinh tế mà còn phải trở thành kênh dẫn vốn hiệu quả tới hạ tầng, công nghệ, đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp tư nhân và các lĩnh vực có khả năng tạo năng suất cao.
Với mục tiêu tăng trưởng hai con số, yêu cầu đặt ra vì thế không phải là lựa chọn giữa tăng trưởng nhanh và nâng chất lượng tăng trưởng. Theo các chuyên gia tại hội thảo, hai mục tiêu này phải được thực hiện đồng thời, thông qua một mô hình mới trong đó năng suất, công nghệ và hiệu quả sử dụng nguồn lực ngày càng đóng vai trò lớn hơn.