Thay đổi tư duy quản lý và cơ chế giám sát mới đối với thị trường vàng
Ngày 29/5/2026, Chính phủ đã chính thức ban hành dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều trong Nghị định 24/2012/NĐ-CP về hoạt động quản lý kinh doanh vàng, một văn bản pháp lý quan trọng được kỳ vọng sẽ làm thay đổi diện mạo thị trường vàng Việt Nam.
Dự thảo không chỉ sửa đổi cho Nghị định 24/2012/NĐ-CP, mà còn đồng thời điều chỉnh các nội dung liên quan trong Nghị định 232/2025/NĐ-CP, dự kiến sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026 nếu được thông qua.
Điểm đáng chú ý nhất trong dự thảo lần này là việc hoạt động sản xuất và kinh doanh vàng trang sức, mỹ nghệ (TSMN) sẽ không còn là ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.
Theo nhận định của CTCK Rồng Việt (VDSC), các đề xuất sửa đổi, bổ sung trong dự thảo Nghị định 24/2012/NĐ-CP nhìn chung phù hợp với chủ trương của Chính phủ về phát triển thị trường vàng theo cơ chế thị trường có quản lý. Việc này cũng nhất quán với Luật Đầu tư (sửa đổi) khi chính thức đưa hoạt động sản xuất, kinh doanh vàng trang sức, mỹ nghệ ra khỏi danh mục ngành, nghề kinh doanh có điều kiện.
Cụ thể, về phạm vi quản lý đối với hoạt động xuất nhập khẩu vàng nguyên liệu, sản xuất và kinh doanh vàng miếng,Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vẫn duy trì cơ chế quản lý chặt chẽ đối với hoạt động xuất nhập khẩu vàng nguyên liệu, sản xuất và kinh doanh vàng miếng, kết hợp giữa tiền kiểm và hậu kiểm.
NHNN thực hiện thanh tra, kiểm tra trong phạm vi quản lý nhà nước đối với hoạt động sản xuất vàng miếng; kinh doanh mua, bán vàng miếng; xuất khẩu, nhập khẩu vàng miếng và vàng nguyên liệu; đồng thời giám sát việc chấp hành các quy định về cấp phép, hạn mức, báo cáo, mua bán, sử dụng vàng nguyên liệu nhập khẩu và các hoạt động kinh doanh vàng theo quy định. Về phía doanh nghiệp, các đơn vị phải thực hiện chế độ báo cáo về tình hình sản xuất, mua bán vàng miếng; tình hình xuất khẩu, nhập khẩu vàng; cũng như tình hình mua, bán, sử dụng và tồn kho vàng nguyên liệu nhập khẩu.
Bên cạnh đó, NHNN và doanh nghiệp phối hợp xây dựng hệ thống thông tin nhằm xử lý và lưu trữ đầy đủ, chính xác dữ liệu về xuất khẩu, nhập khẩu, mua, bán, sử dụng và tồn kho vàng nguyên liệu nhập khẩu; dữ liệu giao dịch mua, bán vàng nguyên liệu. Doanh nghiệp có trách nhiệm kết nối và cung cấp thông tin cho NHNN theo quy định của Thống đốc NHNN.
Về phạm vi quản lý đối với hoạt động sản xuất và kinh doanh vàng trang sức, mỹ nghệ khi không còn là ngành nghề kinh doanh có điều kiện,theo dự thảo, hoạt động sản xuất và kinh doanh vàng TSMN sẽ được quản lý theo hướng khác so với hoạt động xuất nhập khẩu vàng nguyên liệu và sản xuất vàng miếng.
NHNN sẽ không còn thực hiện thanh tra, kiểm tra trực tiếp đối với hoạt động sản xuất vàng TSMN như quy định trước đây, mà chuyển sang thực hiện hậu kiểm thông qua dữ liệu được liên thông tới NHNN và các báo cáo về tình hình sản xuất do doanh nghiệp gửi. Về phía doanh nghiệp, dự thảo không quy định cơ chế thanh tra, kiểm tra chặt chẽ như đối với hoạt động xuất nhập khẩu vàng nguyên liệu và sản xuất vàng miếng. Thay vào đó, doanh nghiệp phải báo cáo tình hình thực hiện hợp đồng gia công, hợp đồng xuất khẩu vàng trang sức, mỹ nghệ trong trường hợp được cấp phép nhập khẩu vàng nguyên liệu; đồng thời báo cáo tình hình bán vàng nguyên liệu nhập khẩu theo quy định của NHNN và các cơ quan có thẩm quyền.
Dự thảo sẽ quy định chặt chẽ hơn về mục đích sử dụng vàng nguyên liệu nhập khẩu.Theo đó, dự thảo quy định vàng nguyên liệu nhập khẩu phải được sử dụng đúng mục đích đã đăng ký với NHNN khi xin cấp phép nhập khẩu. Việc chuyển đổi hoặc chuyển giao sang mục đích khác trên thị trường chỉ được thực hiện khi có sự chấp thuận của NHNN.
Đối với doanh nghiệp có đăng ký hoạt động sản xuất, gia công vàng trang sức, mỹ nghệ và có hợp đồng gia công với đối tác nước ngoài, việc cấp phép tạm nhập vàng nguyên liệu để tái xuất sản phẩm sẽ được xem xét trên cơ sở nhu cầu tạm nhập phù hợp với hợp đồng gia công. Số vàng nguyên liệu này chỉ được sử dụng để thực hiện hợp đồng gia công và tái xuất sản phẩm theo quy định; không được bán, chuyển giao hoặc sử dụng vào mục đích khác trên thị trường trong nước, trừ trường hợp được NHNN chấp thuận.
Đối với các ngành sản xuất khác, dự thảo cho phép xuất khẩu, nhập khẩu vàng làm nguyên liệu để sản xuất linh kiện điện tử, thiết bị điện tử, thiết bị y tế và dụng cụ y tế theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, pháp luật về hải quan và các quy định chuyên ngành liên quan. Số vàng này chỉ được sử dụng cho mục đích sản xuất đã đăng ký và không được sử dụng để sản xuất, kinh doanh vàng hoặc vàng trang sức, mỹ nghệ.
Ngoài ra, đối với thanh toán hóa đơn trên 20 triệu đồng,dự thảo bổ sung quy định việc sử dụng thẻ tín dụng hoặc các phương tiện, hình thức thanh toán có nguồn tiền từ hoạt động cấp tín dụng để thanh toán giao dịch mua vàng miếng phải tuân thủ các quy định của pháp luật về hoạt động cấp tín dụng.
Mở ra cơ hội hội nhập quốc tế và những thách thức trong thực thi chính sách
Việc đưa sản xuất và kinh doanh vàng TSMN ra khỏi danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện được đánh giá là một bước đi phù hợp với xu hướng phát triển của các quốc gia có ngành kim hoàn phát triển mạnh trong khu vực như Thái Lan, Singapore hay UAE.
Theo VDSC, tại các quốc gia này, vàng trang sức được coi là một ngành sản xuất hàng hóa tiêu dùng thông thường và nhận được nhiều chính sách hỗ trợ để trở thành lĩnh vực xuất khẩu có giá trị cao.
Điển hình như tại Thái Lan, quốc gia này đã trở thành trung tâm chế tác lớn của thế giới với kim ngạch xuất khẩu đá quý và trang sức đạt 26,6 tỷ USD vào năm 2025. Nếu loại trừ vàng nguyên liệu, giá trị xuất khẩu trang sức thành phẩm của Thái Lan vẫn đạt mức ấn tượng 13,6 tỷ USD, duy trì tốc độ tăng trưởng kép 7,9%/năm trong giai đoạn 2021–2025.

Tại UAE, vàng và trang sức cũng giữ vai trò là nhóm hàng xuất khẩu phi dầu mỏ quan trọng nhất. Những con số này cho thấy tiềm năng to lớn nếu Việt Nam tận dụng được cơ hội để chuyển mình thành một trung tâm sản xuất và chế tác trang sức của khu vực.
Xét về mặt tích cực, VDSC cho rằng, quy định mới sẽ giúp giảm chi phí và thủ tục hành chính cho doanh nghiệp trong lĩnh vực vàng TSMN. Điều này thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, khuyến khích sáng tạo sản phẩm, thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài (FDI), hỗ trợ xuất khẩu và mở rộng quy mô ngành.
Việt Nam hiện có nhiều doanh nghiệp sản xuất - bán lẻ vàng trang sức có năng lực, uy tín, có kinh nghiệm lâu năm và được đầu tư bài bản, nhưng chưa thể bứt phá ra khỏi thị trường nội địa chủ yếu do những hạn chế từ khuôn khổ pháp lý.
Tuy nhiên, VDSC cũng lưu ý, quy định sẽ đặt ra một số thách thức, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể gặp khó khăn trước cạnh tranh gay gắt. Bên cạnh đó là rủi ro về chất lượng sản phẩm và hàng giả, hàng kém có thể gia tăng nếu công tác quản lý hậu kiểm chưa hiệu quả. Ngoài ra, các doanh nghiệp nhỏ sẽ phải đầu tư thêm chi phí để xây dựng hệ thống báo cáo, kết nối dữ liệu.
“Tổng thể, những quy định tại dự thảo được đánh giá sẽ góp phần quan trọng vào việc minh bạch hóa và lành mạnh hóa thị trường vàng. Hiệu quả thực tế của chính sách sẽ phụ thuộc rất lớn vào khả năng tổ chức thực thi và năng lực giám sát của NHNN trong thời gian tới”, báo cáo VDSC nhấn mạnh.