T3 22/09/2026 · No. 122

Ngành ngân hàng Khu vực 13 khơi thông dòng vốn tăng trưởng

Ngành ngân hàng Khu vực 13 khơi thông dòng vốn tăng trưởng

Dòng vốn tăng nhưng bài toán lớn hơn là vốn đi đâu

Bức tranh kinh tế - xã hội tháng 8/2026 cho thấy một nền kinh tế đang mở rộng trên nhiều mặt. Tại Đồng Tháp, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 8 tăng 15,13% so với cùng kỳ, đưa mức tăng lũy kế 8 tháng lên 12,58%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt khoảng 16.310 tỷ đồng, tăng 18,22%; kim ngạch xuất khẩu lũy kế đạt 6,67 tỷ USD, tăng 8,78%.

Tây Ninh cũng ghi nhận nhịp tăng trưởng đáng chú ý khi chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 8 tăng 16,02% so với cùng kỳ, lũy kế 8 tháng tăng 15,04%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt hơn 20.150 tỷ đồng, tăng 20,21%; xuất khẩu tăng 21,58%, trong khi nhập khẩu tăng 14,26%. Đây chính là nền kinh tế phía sau những con số tín dụng.

Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực 13 cho biết, đến cuối tháng 8/2026, tổng nguồn vốn huy động thị trường 1 của các tổ chức tín dụng tại Khu vực 13 đạt 476.743 tỷ đồng, tăng 45.308 tỷ đồng, tương đương 10,5% so với cuối năm 2025. Trong đó, Đồng Tháp đạt 226.024 tỷ đồng, tăng 8,57%; Tây Ninh đạt 250.719 tỷ đồng, tăng 12,31%.

Ở chiều tín dụng, dư nợ không bao gồm mua, đầu tư trái phiếu doanh nghiệp đạt 551.035 tỷ đồng, tăng 25.937 tỷ đồng, tương đương 4,94% so với cuối năm 2025. Đồng Tháp đạt dư nợ 255.780 tỷ đồng, tăng 5,08%; Tây Ninh đạt 295.254 tỷ đồng, tăng 4,82%.

Nếu chỉ nhìn vào tốc độ tăng trưởng, đây là những con số khá tích cực. Nhưng với một khu vực có cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch, câu hỏi quan trọng hơn là dòng vốn đang thực sự đi vào đâu và tạo ra giá trị gì cho nền kinh tế.

Câu trả lời nằm khá rõ trong cơ cấu tín dụng: Thương mại và dịch vụ đang chiếm tỷ trọng lớn nhất với dư nợ 343.129 tỷ đồng, tương đương 62,27% tổng dư nợ, tăng 5,08% so với cuối năm 2025. Công nghiệp và xây dựng đạt 101.702 tỷ đồng, chiếm 18,46%, nhưng tăng tới 10,96%. Trong khi đó, dư nợ nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản đạt 106.204 tỷ đồng, chiếm 19,27%, giảm nhẹ 0,66%.

Sự phân bổ này cho thấy tín dụng đang đồng hành khá sát với nhịp vận động của nền kinh tế: Duy trì nguồn vốn cho khu vực thương mại - dịch vụ, đồng thời gia tăng đáng kể dòng tiền vào công nghiệp - xây dựng, nơi gắn với đầu tư, năng lực sản xuất và hạ tầng.

1789369921153_96648429579384322_96648429579384322_b9410464d07520d57210510f6b65c9b1.jpg
Ảnh minh họa

Ưu tiên không còn là khẩu hiệu

Một chỉ dấu đáng chú ý khác là tín dụng vào 5 lĩnh vực ưu tiên đến cuối tháng 7/2026 đạt 432.437 tỷ đồng, tương đương 78,48% tổng dư nợ. Trong đó, tín dụng nông nghiệp, nông thôn đạt 322.919 tỷ đồng; cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 73.917 tỷ đồng, tăng 16,91%; tín dụng xuất khẩu đạt 26.420 tỷ đồng, tăng 15,96%.

Đặc biệt, tốc độ tăng tín dụng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và lĩnh vực xuất khẩu cho thấy dòng vốn đang tìm đến những khu vực có khả năng trực tiếp chuyển hóa thành sản xuất, đơn hàng và dòng tiền.

Đây cũng là điểm cần nhìn nhận thận trọng. Tín dụng nông nghiệp, nông thôn vẫn chiếm gần 60% tổng dư nợ, nhưng tăng chưa đến 1%. Trong khi đó, dư nợ công nghiệp hỗ trợ giảm 15,25% và tín dụng doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao vẫn ở quy mô rất nhỏ.

Nói cách khác, khơi thông dòng vốn đã có chuyển động, nhưng nâng chất lượng hấp thụ vốn vẫn là bài toán phía trước.

Khi sức hấp thụ vốn quyết định hiệu quả tín dụng

Thực tế tại các ngành hàng chủ lực cho thấy, nhu cầu vốn không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với khả năng vay vốn tăng lên. Đến cuối tháng 7/2026, dư nợ ngành lúa gạo đạt 63.773 tỷ đồng, giảm 9,67% so với cuối năm 2025. Dư nợ thủy sản đạt 22.431 tỷ đồng, giảm 4,27%. Diễn biến này được lý giải bởi yếu tố mùa vụ, quy mô sản xuất tại một số địa bàn giảm, cùng tác động từ giá lúa gạo và giá xuất khẩu gạo thấp hơn cùng kỳ.

Điều đó đặt ra một yêu cầu mới đối với ngân hàng: Không chỉ mở rộng tín dụng, mà phải định vị đúng nhu cầu vốn, đúng thời điểm và đúng chuỗi giá trị.

Các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đang đóng vai trò quan trọng trong quá trình này. Chương trình tín dụng 185.000 tỷ đồng cho lĩnh vực nông, lâm, thủy sản đã giải ngân lũy kế khoảng 65.411 tỷ đồng, với tổng dư nợ 34.405 tỷ đồng. Chương trình tín dụng cho chuỗi lúa gạo chất lượng cao, phát thải thấp tại ĐBSCL cũng đã phát sinh doanh số giải ngân lũy kế 5,07 tỷ đồng.

Đầu tư công, nếu được đẩy nhanh, sẽ tiếp tục là một chất xúc tác quan trọng. Hạ tầng giao thông, logistics và các dự án phát triển sản xuất có khả năng kéo theo nhu cầu vốn trung, dài hạn, mở rộng thị trường và cải thiện năng lực hấp thụ vốn của doanh nghiệp.

Không chạy theo tăng trưởng bằng mọi giá: Dòng vốn tăng trưởng luôn đi cùng yêu cầu kiểm soát chất lượng tín dụng. Đây có lẽ là ranh giới quan trọng nhất của giai đoạn hiện nay.

Việc tín dụng tăng 4,94% sau 8 tháng cho thấy nguồn vốn đang được đưa ra nền kinh tế với tốc độ tương đối tích cực. Nhưng với các ngân hàng, mục tiêu không đơn thuần là làm cho dư nợ lớn hơn cuối năm trước. Mục tiêu cuối cùng là để đồng vốn quay trở lại ngân hàng bằng dòng tiền của những phương án sản xuất - kinh doanh hiệu quả.

Vì thế, những tháng cuối năm sẽ là phép thử kép: Vừa duy trì khả năng cung ứng vốn cho các động lực tăng trưởng, vừa kiểm soát chặt chất lượng tín dụng; vừa hỗ trợ doanh nghiệp, vừa bảo đảm các tiêu chuẩn an toàn hệ thống.

TS. Phạm Minh Tú, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực 13 nhận định: “Khơi thông dòng vốn không nên được hiểu đơn giản là mở rộng hạn mức tín dụng. Vấn đề cốt lõi là nâng năng lực hấp thụ vốn của doanh nghiệp và hộ sản xuất, để tín dụng đi vào đúng chuỗi giá trị và tạo ra dòng tiền thực”.

Trong bối cảnh đó, sự phối hợp giữa ngân hàng, chính quyền và doanh nghiệp có ý nghĩa đặc biệt. Chính sách tài khóa, đặc biệt là đầu tư công, có thể tạo thêm thị trường và tài sản bảo đảm cho các hoạt động kinh tế; trong khi tín dụng ngân hàng cung cấp nguồn lực để doanh nghiệp mở rộng sản xuất, bổ sung vốn lưu động và đầu tư năng lực mới.

Khi nền kinh tế tạo được nhu cầu vốn lành mạnh, ngân hàng có thêm không gian để tăng trưởng tín dụng. Khi ngân hàng phân bổ vốn đúng địa chỉ, nền kinh tế lại có thêm động lực để tăng trưởng. Vòng quay đó mới là thước đo thực chất của một dòng vốn được “khơi thông”.

Với những tín hiệu tích cực từ công nghiệp, thương mại, xuất khẩu và đầu tư công trong 8 tháng, nhiệm vụ của ngành ngân hàng Khu vực 13 trong những tháng cuối năm vì thế không chỉ là đưa thêm tiền ra thị trường. Quan trọng hơn, đó là đưa vốn đến đúng nơi có khả năng tạo ra giá trị, kiểm soát rủi ro trên đường đi và bảo đảm đồng vốn ngân hàng thực sự trở thành một phần của động lực tăng trưởng mới.

TheoThị Trường Tài Chính Tiền Tệ

Bạn thấy bài này thế nào?

Phản hồi ẩn danh — chúng tôi không lưu thông tin cá nhân.