Techcombank giảm lãi suất, Cake đưa nhiều kỳ hạn về 6,9%/năm
Sáng 23/10/2026, lãi suất tiền gửi tại nhiều ngân hàng đã chuyển sang mặt bằng mới sau các đợt điều chỉnh liên tiếp. Techcombank giảm từ 0,1–0,5% từ ngày 22/10, trong khi Cake by VPBank cũng hạ lãi suất ở nhóm kỳ hạn 6–24 tháng.

Với sản phẩm Phát Lộc Online tại Techcombank, kỳ hạn 1–12 tháng giảm 0,1%. Sau điều chỉnh, kỳ hạn 1–2 tháng hưởng 4,25%/năm, kỳ hạn 3–5 tháng là 4,55%/năm và kỳ hạn 6–11 tháng áp dụng 6,45%/năm.
Kỳ hạn 12 tháng có mức cao nhất trong biểu này, đạt 6,65%/năm. Trong khi đó, các kỳ hạn 13–36 tháng cùng giảm 0,5%, còn 5,35%/năm. Như vậy, gửi 12 tháng có lãi suất cao hơn 1,3% trăm so với gửi 36 tháng.
Ở sản phẩm tiết kiệm có kỳ hạn thông thường, Techcombank áp dụng 5,9%/năm cho kỳ hạn 6–11 tháng, 6,1%/năm cho kỳ hạn 12 tháng và 5%/năm cho kỳ hạn 13–36 tháng.
Cake by VPBank áp dụng biểu mới từ chiều 21/10. Lãi suất lĩnh cuối kỳ tại kỳ hạn 6–9 tháng giảm từ 7,2%/năm xuống 6,9%/năm. Các kỳ hạn 10–24 tháng cũng về 6,9%/năm, giảm 0,5% so với trước đó.
Tại SHB, lãi suất online kỳ hạn 6–8 tháng còn 5,7%/năm, kỳ hạn 12–13 tháng là 6%/năm và kỳ hạn 24–36 tháng đạt 6,2%/năm. ABBank áp dụng mức cao nhất 5,75%/năm cho kỳ hạn trực tuyến 6–13 tháng sau khi giảm 0,5%.
SeABank có mức giảm mạnh hơn ở kỳ hạn dài. Tiền gửi online 18–36 tháng giảm 0,7%, còn 4,75%/năm. Kỳ hạn 6 tháng áp dụng 4,15%/năm, còn 12 tháng hưởng 4,5%/năm. Ngân hàng có chính sách cộng thêm 0,2% cho khoản từ 100 triệu đồng ở kỳ hạn 6 tháng, 12 tháng và 13 tháng.
Ở nhóm Big4, tiền gửi tại quầy kỳ hạn 12 tháng tại Agribank, BIDV, Vietcombank và VietinBank cùng ở mức 5,4%/năm; kỳ hạn 24 tháng là 5,5%/năm. Riêng kỳ hạn 6 tháng và 9 tháng, Agribank áp dụng 3,5%/năm, cao hơn mức 3%/năm của ba ngân hàng còn lại.
Những lựa chọn từ 7%/năm vẫn hiện diện
Sau đợt giảm, người gửi vẫn có một số lựa chọn từ 7%/năm. Tuy nhiên, mức hưởng tập trung ở từng kỳ hạn hoặc nhóm tiền gửi, thay vì xuất hiện đồng đều trên toàn bộ biểu lãi suất.
Tại MBV, tiền gửi online kỳ hạn 6 tháng áp dụng 6,5%/năm, trong khi các kỳ hạn 7–36 tháng vẫn hưởng 7%/năm. MBBank có mức thấp hơn ở các kỳ hạn tương ứng, với khoản gửi online 6–11 tháng hưởng 5,3%/năm, kỳ hạn 12–18 tháng là 5,85%/năm và kỳ hạn 24–60 tháng đạt 6,5%/năm.
Ở kỳ hạn 12 tháng, Saigonbank áp dụng 7,2%/năm. VCBNeo, PGBank và VIB cùng có mức 7%/năm. Với kỳ hạn 6 tháng, PGBank và Saigonbank cùng trả 6,9%/năm, trong khi VCBNeo ở mức 7%/năm.
LPBank có lãi suất online kỳ hạn 6 tháng là 6,5%/năm, kỳ hạn 12 tháng đạt 6,7%/năm. Bac A Bank áp dụng tương ứng 6,55%/năm và 6,6%/năm.
MSB trả 6,3%/năm cho kỳ hạn 6 tháng và 6,8%/năm cho kỳ hạn 12 tháng. BAOVIET Bank có hai mức lần lượt là 5,9%/năm và 6%/năm; Nam A Bank áp dụng 5,9%/năm và 6,1%/năm.
Tại PVcomBank, tiền gửi online lĩnh lãi cuối kỳ có mức 4,8%/năm cho kỳ hạn 6–11 tháng, 5,1%/năm cho kỳ hạn 12 tháng và 5,3%/năm cho kỳ hạn 13 tháng. Nhóm kỳ hạn 15–36 tháng hưởng 5,8%/năm.
Với nhu cầu gửi 24 tháng, VPBank có mức online 7,1%/năm, cao hơn mức tại quầy 6,9%/năm. HDBank áp dụng 5%/năm qua kênh online và 4,9%/năm với tiết kiệm có kỳ hạn thông thường tại quầy. ACB có mức 4,9%/năm cho tiết kiệm truyền thống, lĩnh lãi cuối kỳ tại kỳ hạn này.
Chênh lệch giữa các kỳ hạn cũng cần được tính đến khi lựa chọn. Tại VIB, kỳ hạn 12 tháng hưởng 7%/năm nhưng kỳ hạn 18 tháng chỉ ở mức 5,9%/năm. Saigonbank áp dụng 7,2%/năm cho kỳ hạn 12 tháng và 7%/năm cho kỳ hạn 18 tháng.