Thống kê cho thấy, dự trữ USD tăng từ tỷ trọng 56,42% trong quý IV/2025 lên 57,13% trong quý I/2026. Trong năm 2025, tỷ trọng của vàng trong dự trữ ngoại hối quốc tế đã vượt dự trữ trái phiếu kho bạc Mỹ, nguyên nhân là do tác động của việc định giá vàng và không phản ánh trong tỷ trọng USD trong cơ cấu dự ngoại hối quốc tế. Trong quý I/2026, USD tăng giá nhẹ so với những đồng tiền chủ chốt khác là yếu tố cơ bản tác động đến tỷ trọng USD trong cơ cấu dự trữ ngoại hối quốc tế, trong đó diễn biến tỷ giá chiếm khoảng một nửa mức tăng này.

Diễn biến tỷ giá cũng dẫn đến những thay đổi cơ bản về tỷ trọng dự trữ EUR và CNY. Cụ thể là, dự trữ EUR trong quý I/2026 chiếm 20,03%, giảm từ tỷ trọng 20,38% trong quý IV/2025; dự trữ CNY tăng lên 1,99% từ tỷ trọng 1,95% trong quý IV/2025.
Trong số các đồng tiền chủ chốt, dự trữ JPY ghi nhận mức giảm sâu nhất, từ tỷ trọng 5,84% trong quý IV/2025 xuống 5,44%. Ở mức độ thấp hơn, dự trữ GBP và CAD lần lượt giảm 0,01% và 0,02% so với quý IV/2025. Trái lại, dự trữ AUD và CHF lần lượt tăng 0,09% và 0,02% so với báo cáo trước đó.
Trái với trường hợp EUR và CNY, thay đổi tỷ giá không còn đóng vai trò trung tâm đối với JPY và CHF, do những yếu tố khác đóng vai trò quan trọng hơn. Xu hướng vận động của tỷ trọng dự trữ ngoại hối giữa các quý có thể bắt nguồn từ tác động kết hợp của những yếu tố khác (không phải tỷ giá), bao gồm quản lý chủ động (chủ động mua bán tài sản) và tác động của việc định giá do giá cả thay đổi (lãi suất thay đổi đã tác động đến lợi suất trái phiếu chính phủ trên thị trường). Trong quý I/2026, lợi suất JPY và CHF tăng bất thường so với những đồng tiền dự trữ khác, phản ánh tác động của hai nhóm yếu tố trên đây, khi nhà đầu tư chủ động mua bán trái phiếu dưới dạng hai ngoại tệ này và giá cả thay đổi đã dẫn đến xu hướng điều chỉnh lượng trái phiếu cần nắm giữ.
Trong khi đó, những đồng tiền khác vẫn chiếm trên 6% trong cơ cấu dự trữ ngoại hối quốc tế, mặc dù giảm nhẹ từ tỷ trọng 6,25% trong quý IV/2025 xuống 6,18%, ghi nhận đợt suy giảm đầu tiên sau 7 quý liên tiếp, bắt đầu từ quý I/2024.

Theo dữ liệu thống kê do Wikipedia cập nhật và công bố, top 10 quốc gia và vùng lãnh thổ về dự trữ ngoại hối quốc tế bao gồm: (1) Trung Quốc với 3.643,149 tỷ USD (dữ liệu ngày 31/8/2025), tăng 41,079 tỷ USD; (2) Nhật Bản với 1.394,750 tỷ USD (dữ liệu ngày 31/01/2026), tăng 19,774 tỷ USD; (3) Thụy Sỹ với 1.077,735 tỷ USD (dữ liệu ngày 31/12/2025), tăng 13,935 tỷ USD; (4) CHLB Nga với 729,3 tỷ USD (dữ liệu ngày 12/06/2026), tăng 30,9 tỷ USD; (5) Ấn Độ với 672,587 tỷ USD (dữ liệu ngày 26/06/2026), tăng 0,963 tỷ USD; (6) Đài Loan với 605,49 tỷ USD (dữ liệu ngày 26/02/2026), giảm 4,39 tỷ USD; (7) Arập Xê út với 494,914 tỷ USD (dữ liệu ngày 30/4/2026), tăng 60,367 tỷ USD; (8) Hồng Kông (Trung Quốc) với 442,1 tỷ USD (dữ liệu ngày 7/5/2026), tăng 5,126 tỷ USD; (9) Hàn Quốc với 427,9 tỷ USD (dữ liệu ngày 07/5/2026), tăng 12,2 tỷ USD; (10) Singapore với 427,256 tỷ USD (dữ liệu ngày 30/4/2026), tăng 43,535 tỷ USD.
Tại bảng thống kê này, dự trữ ngoại hối của Mỹ đạt 253,767 tỷ USD, giảm 811 triệu USD (dữ liệu ngày 22/8/2025), đứng thứ 16 trên thế giới.