Nhóm quốc doanh tạo điểm nhấn trong mùa báo cáo quý III
Bước sang quý III/2026, tăng trưởng lợi nhuận của ngành ngân hàng được dự báo vẫn duy trì ở mức cao. Tuy nhiên, nếu nửa đầu năm câu chuyện chủ yếu xoay quanh tốc độ mở rộng tín dụng, thì trong quý này, sự khác biệt về biên lãi và chi phí dự phòng bắt đầu tạo ra khoảng cách rõ hơn giữa các nhóm ngân hàng.

Theo dự báo của MBS Research, 13 ngân hàng trong phạm vi theo dõi có thể ghi nhận tổng lợi nhuận sau thuế khoảng 66.912 tỷ đồng trong quý III, tăng 19,1% so với cùng kỳ. Động lực đáng chú ý đến từ nhóm ngân hàng quốc doanh, nơi thu nhập lãi thuần được dự báo tăng 22,1%, cao hơn mức 14,1% của nhóm ngân hàng tư nhân.
Khoảng cách này không chỉ đến từ tín dụng. Trong đó, nhóm ngân hàng quốc doanh đang có thêm lợi thế từ chi phí vốn thấp, nền CASA tốt hơn và tỷ trọng các khoản vay trung, dài hạn chuyển sang lãi suất thả nổi tăng lên. Trong khi đó, nhiều ngân hàng tư nhân vẫn phải đẩy mạnh huy động để đáp ứng nhu cầu giải ngân, khiến áp lực lên biên lãi chưa thực sự hạ nhiệt.
Vietcombank là một ví dụ khá điển hình cho xu hướng này. Cụ thể, tín dụng của ngân hàng đến cuối quý III được dự báo tăng khoảng 9% so với đầu năm, với phần lớn động lực đến từ khách hàng doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp lớn và khối FDI. Tốc độ này không quá cao nếu đặt cạnh một số ngân hàng tư nhân, nhưng khả năng duy trì chi phí vốn thấp lại giúp Vietcombank có thêm dư địa cải thiện thu nhập.
NIM quý III của ngân hàng được dự báo gần 3%, tăng 38 điểm cơ bản so với cùng kỳ. Thu nhập lãi thuần theo đó có thể tăng 34%, lên gần 19.600 tỷ đồng. Cùng với dự phòng giảm so với cùng kỳ, lợi nhuận trước thuế quý III của Vietcombank được dự báo đạt khoảng 14.567 tỷ đồng, tăng 30%.
Một diễn biến tương tự cũng xuất hiện tại VietinBank. Tín dụng đến cuối quý III được dự báo tăng khoảng 10% so với đầu năm, nhỉnh hơn tốc độ tăng huy động. Biên lãi tiếp tục phục hồi so với cùng kỳ, trong khi chi phí dự phòng có thể giảm gần 46%.
Chính khoản chi phí này tạo ra khác biệt đáng kể. Dù hoạt động tín dụng không tăng đột biến, lợi nhuận trước thuế quý III của VietinBank vẫn được dự báo tăng khoảng 30%, lên 13.800 tỷ đồng. Lợi nhuận sau thuế ước đạt 10.843 tỷ đồng, tăng 27,4%.
Tại BIDV, mức tăng trưởng có phần thấp hơn nhưng vẫn giữ được xu hướng tích cực. Tín dụng đến cuối quý III được dự báo tăng khoảng 6% so với đầu năm, chủ yếu nhờ cho vay doanh nghiệp và SME, trong khi mảng bán lẻ phục hồi chậm hơn. Thu nhập lãi thuần được kỳ vọng tăng 18%, đưa lợi nhuận sau thuế quý III lên khoảng 7.365 tỷ đồng, tăng 21%.
Nếu ba ngân hàng quốc doanh cùng được dự báo tăng trưởng lợi nhuận hai chữ số, bức tranh ở nhóm ngân hàng tư nhân lại không đồng đều như vậy.
Ở nhóm tăng trưởng cao, HDBank có thể ghi nhận lợi nhuận sau thuế quý III khoảng 6.004 tỷ đồng, tăng 58% so với cùng kỳ. VPBank cũng được dự báo đạt 9.319 tỷ đồng, tăng 26,6%, còn Techcombank tăng 17,5% lên 7.771 tỷ đồng.
Nhưng ở chiều ngược lại, LPBank được dự báo giảm lợi nhuận 10,4%, Eximbank giảm 27,2%, trong khi mức giảm tại Sacombank lên tới 50,4%.
Những con số này cho thấy tăng trưởng tín dụng cao chưa hẳn đồng nghĩa với lợi nhuận sẽ tăng tương ứng. Đằng sau tốc độ mở rộng dư nợ, chi phí huy động, NIM và dự phòng đang trở thành những biến số quyết định mức độ chuyển hóa tín dụng thành lợi nhuận.
Tín dụng vẫn tăng, nhưng áp lực NIM chưa hạ nhiệt
Tín dụng tiếp tục là nền tảng chính cho tăng trưởng của các ngân hàng trong quý III. Nhóm ngân hàng được MBS theo dõi dự kiến đưa dư nợ tăng khoảng 12% so với đầu năm, song khoảng cách giữa từng nhà băng khá lớn. bank
Một số ngân hàng tư nhân vẫn đang tăng tốc mạnh. Trong đó, HDBank được dự báo có mức tăng trưởng tín dụng khoảng 33% so với đầu năm vào cuối quý III. Tại VPBank, con số này khoảng 26%, với động lực chính đến từ khách hàng doanh nghiệp và SME. Techcombank cũng có thể đưa dư nợ tăng khoảng 20%, trong đó dư nợ cho các dự án lớn được ước tính khoảng 30.000 tỷ đồng.
Tốc độ giải ngân cao giúp mở rộng quy mô tài sản sinh lời, nhưng đi kèm với đó là nhu cầu vốn ngày càng lớn. Khi lãi suất huy động vẫn ở mức cao, việc gia tăng nguồn tiền gửi có thể khiến lợi ích từ tăng trưởng tín dụng bị bào mòn một phần. Đây cũng là lý do NIM tiếp tục trở thành điểm cần theo dõi trong quý III.
Ở nhóm ngân hàng quốc doanh, lợi thế về CASA và chi phí vốn giúp biên lãi có khả năng cải thiện rõ hơn. Ngược lại, các ngân hàng tư nhân tăng tín dụng nhanh hoặc phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn vốn kỳ hạn vẫn đối mặt với áp lực lớn hơn từ đầu vào.
VPBank là một trường hợp điển hình. Dù tín dụng được dự báo tăng tới 26% so với đầu năm, NIM quý III vẫn có thể giảm 29 điểm cơ bản so với cùng kỳ. Tại TPBank, NIM được dự báo còn khoảng 2,9%, giảm 31 điểm cơ bản. Sacombank chịu áp lực mạnh hơn khi biên lãi có thể giảm 123 điểm cơ bản xuống 2,7%.
Trong bối cảnh biên lãi chưa đồng loạt phục hồi, chi phí dự phòng lại trở thành một yếu tố quan trọng khác tác động đến lợi nhuận.
Áp lực nợ xấu được dự báo chưa tăng mạnh thêm so với nửa đầu năm. Trong 6 tháng đầu năm, tỷ lệ nợ xấu hình thành trên dư nợ bình quân của nhóm ngân hàng theo dõi thậm chí giảm nhẹ so với cùng kỳ. Việc nhiều ngân hàng đã chủ động tăng trích lập trong hai quý đầu năm cũng tạo thêm bộ đệm cho giai đoạn tiếp theo.
Tuy nhiên, chất lượng tài sản giữa các ngân hàng vẫn có sự phân hóa. Vietcombank, VietinBank, ACB và Techcombank được dự báo giữ tỷ lệ nợ xấu tương đối ổn định so với đầu năm, trong khi HDBank, LPBank, Sacombank và TPBank vẫn có thể chịu áp lực nhất định.
Sự khác biệt này thể hiện rõ nhất ở khoản dự phòng. Tổng chi phí trích lập của nhóm ngân hàng được theo dõi dự kiến chỉ tăng 6,7% so với cùng kỳ, chậm đáng kể so với mức tăng 29% trong nửa đầu năm. Nhưng phía sau con số chung là hai diễn biến trái chiều: nhóm ngân hàng quốc doanh được dự báo giảm chi phí dự phòng 18,5%, trong khi nhóm tư nhân vẫn tăng 28,8%.
Vì vậy, trong quý III, khoảng cách về lợi nhuận giữa các ngân hàng không chỉ nằm ở việc ai tăng tín dụng nhanh hơn. Những nhà băng giữ được chi phí vốn thấp, biên lãi ổn định và có đủ bộ đệm để giảm áp lực dự phòng đang có nhiều điều kiện hơn để chuyển tăng trưởng dư nợ thành tăng trưởng lợi nhuận.