Lãi suất cộng thêm đưa mức hưởng vượt 8%/năm
Thị trường tiền gửi ngày 17/10 ghi nhận nhiều chương trình cộng thêm lãi suất dành cho khách hàng gửi tiết kiệm lần đầu. Tại một số ngân hàng, mức hưởng sau ưu đãi vượt 8%/năm, song đi kèm điều kiện về đối tượng, kỳ hạn và thời gian duy trì khoản tiền gửi.

BVBank đang triển khai chương trình cộng thêm tối đa 1,9%/năm cho khách hàng cá nhân mới gửi tiết kiệm qua ứng dụng ngân hàng số. Khách hàng đáp ứng điều kiện được cấp mã e-voucher để sử dụng khi mở khoản tiết kiệm trực tuyến kỳ hạn 6 tháng, lĩnh lãi cuối kỳ, với số tiền từ 10 triệu đồng.
Lãi suất trực tuyến kỳ hạn 6 tháng tại BVBank hiện ở mức 6,7%/năm. Khi áp dụng mức cộng thêm tối đa, khách hàng đủ điều kiện có thể hưởng lãi suất 8,6%/năm.
Tại Cake by VPBank, chương trình dành cho khách hàng gửi tiết kiệm lần đầu được triển khai từ ngày 22/9 đến hết ngày 31/10/2026. Mức cộng thêm là 2,2%/năm, áp dụng cho tiền gửi tiêu chuẩn và tiền gửi tích lũy trên ứng dụng CAKE BANK, với số tiền tối thiểu 100.000 đồng, kỳ hạn từ 6 - 13 tháng.
Khách hàng có thể lựa chọn nhận lãi cuối kỳ, đầu kỳ, hằng tháng hoặc hằng quý theo quy định chương trình. Khoản tiền gửi phải được duy trì đến hạn. Với mức lãi suất niêm yết 7,4%/năm, tổng mức hưởng sau ưu đãi có thể đạt 9,6%/năm. Tuy nhiên, lãi suất cụ thể còn phụ thuộc kỳ hạn và phương thức nhận lãi.
VPBank cũng triển khai chương trình cộng thêm lãi suất tối đa 2,5%/năm cho khách hàng gửi tiết kiệm lần đầu thuộc VPBank Prime. Chương trình dành cho khách hàng mở mới tài khoản thanh toán, trải nghiệm đặc quyền hội viên và đáp ứng các điều kiện của ngân hàng, kéo dài đến hết ngày 31/12/2026.
Theo thông tin chương trình, lãi suất sau ưu đãi có thể vượt 8,5%/năm. Đây là mức dành cho khách hàng đủ điều kiện, không áp dụng đồng loạt cho mọi khoản tiết kiệm.
Nhiều ngân hàng duy trì lãi suất từ 7%/năm
Ngoài các chương trình dành cho người gửi mới, lãi suất tại nhiều ngân hàng tiếp tục ở mức từ 7%/năm tại các kỳ hạn 6 - 24 tháng.
Ở kỳ hạn 6 tháng, Sacombank áp dụng mức 7,2%/năm, BAC A BANK ở mức 7,05%/năm. Nhóm VCBNeo, LPBank, MBV và VPBank cùng ở mức 7%/năm; PGBank và SaigonBank cùng niêm yết 6,9%/năm.
BVBank áp dụng 6,7%/năm trước khi cộng ưu đãi. Các mức tiếp theo gồm BIDV 6,6%/năm, OCB 6,5%/năm, Nam A Bank và BAOVIET Bank cùng 6,4%/năm. NCB, Techcombank và SHB cùng ở mức 6,2%/năm.
Tại kỳ hạn 12 tháng, Sacombank niêm yết 7,5%/năm; LPBank và SaigonBank cùng ở mức 7,2%/năm. BAC A BANK và VPBank áp dụng 7,1%/năm, trong khi VCBNeo, MBV, PGBank và VIB cùng duy trì 7%/năm.
BVBank niêm yết 6,9%/năm; OCB, MSB và BIDV cùng ở mức 6,8%/năm. Vietcombank, VietinBank và Agribank áp dụng 5,9%/năm tại kỳ hạn này.
Với khoản tiền gửi 24 tháng, Sacombank có mức 7,8%/năm, cao hơn 0,3 điểm phần trăm so với kỳ hạn 12 tháng. Cake by VPBank áp dụng 7,4%/năm, LPBank ở mức 7,2%/năm và VPBank là 7,1%/năm. VCBNeo, MBV và MBBank cùng niêm yết 7%/năm.
Lãi suất dài hạn không phải lúc nào cũng cao hơn kỳ hạn ngắn. SaigonBank áp dụng 7,2%/năm cho kỳ hạn 12 tháng nhưng chỉ 6,5%/năm ở kỳ hạn 24 tháng. Tương tự, VIB niêm yết lần lượt 7%/năm và 6%/năm; Techcombank là 6%/năm và 5,5%/năm.
Ở kỳ hạn 3 tháng, nhiều ngân hàng cùng áp dụng mức 4,75%/năm, gồm BAC A BANK, MBV, PGBank, BVBank, Sacombank, NCB, MSB, TPBank, VCBNeo, VPBank và BIDV. Nam A Bank và Vikki Bank cùng ở mức 4,7%/năm; LPBank và SHB là 4,65%/năm.
Sự khác biệt giữa lãi suất niêm yết và mức hưởng sau ưu đãi khiến điều kiện áp dụng trở thành yếu tố cần đối chiếu khi lựa chọn khoản gửi. Đặc biệt, các mức trên 8%/năm trong những chương trình nêu trên phụ thuộc vào việc khách hàng gửi lần đầu, sử dụng đúng mã ưu đãi và duy trì tiền gửi theo quy định.