Khác nhau về đối tượng và các chế độ được hưởng bảo hiểm xã hội
Điểm khác biệt đầu tiên nằm ở đối tượng tham gia. Theo khoản 1, 2 và 3 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, người lao động và người sử dụng lao động thuộc các nhóm được quy định phải tham gia BHXH bắt buộc.

Trong khi đó, nhóm tự nguyện được quy định tại khoản 4 Điều 2 của Luật. Theo đó, công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên, không thuộc diện bắt buộc và không đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hoặc trợ cấp hằng tháng có thể tham gia khi có nhu cầu.
Sự khác biệt tiếp theo nằm ở số lượng chế độ được hưởng. Người tham gia BHXH bắt buộc được hưởng 5 chế độ gồm ốm đau, thai sản, hưu trí, tử tuất và bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật An toàn, vệ sinh lao động.
Đối với hình thức tự nguyện, người tham gia được hưởng 4 chế độ gồm trợ cấp thai sản, hưu trí, tử tuất và bảo hiểm tai nạn lao động theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.
Như vậy, phạm vi quyền lợi của hai hình thức không hoàn toàn giống nhau. Nhóm bắt buộc có thêm chế độ ốm đau và chế độ thai sản được áp dụng theo cơ chế riêng, trong khi nhóm tự nguyện được hưởng trợ cấp thai sản theo quy định.
Sự khác biệt về đối tượng cũng khiến tính chất của hai hình thức không giống nhau. Với nhóm thuộc diện bắt buộc, việc tham gia là nghĩa vụ theo luật định. Trong khi đó, người không thuộc nhóm này có thể lựa chọn tham gia tự nguyện để tích lũy thời gian đóng và hưởng các quyền lợi dài hạn.
Khác nhau về căn cứ và tỷ lệ đóng
Một điểm quan trọng khác là căn cứ xác định số tiền phải đóng. Đối với BHXH bắt buộc, căn cứ đóng là tiền lương tháng. Khoản 1 Điều 31 Luật năm 2024 chia thành hai nhóm.
Với người lao động thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, mức làm căn cứ đóng là tiền lương tháng theo chức vụ, chức danh, ngạch, bậc, cấp bậc quân hàm cùng một số khoản phụ cấp như phụ cấp chức vụ, thâm niên vượt khung, thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu lương nếu có.
Đối với người lao động hưởng tiền lương do người sử dụng lao động quyết định, căn cứ đóng gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được thỏa thuận trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương.
Tiền lương tháng làm căn cứ đóng thấp nhất bằng mức tham chiếu và cao nhất bằng 20 lần mức tham chiếu tại thời điểm đóng.
Trong khi đó, với hình thức tự nguyện, căn cứ đóng là thu nhập tháng do người tham gia lựa chọn trong giới hạn pháp luật quy định.
Mức thu nhập thấp nhất được lựa chọn bằng chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn. Mức cao nhất bằng 20 lần mức tham chiếu tại thời điểm đóng.
Khác biệt cũng thể hiện rõ ở tỷ lệ đóng. Đối với nhóm bắt buộc, tổng tỷ lệ liên quan đến các quỹ gồm 3% tiền lương tháng làm căn cứ đóng vào quỹ ốm đau và thai sản; 22% vào quỹ hưu trí và tử tuất.
Tuy nhiên, người lao động không phải tự đóng toàn bộ số tiền này. Phần người lao động đóng là 8% tiền lương tháng vào quỹ hưu trí và tử tuất, phần còn lại thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động theo quy định.
Đối với BHXH tự nguyện, tỷ lệ đóng bằng 22% mức thu nhập tháng mà người tham gia lựa chọn, trong giới hạn tối thiểu và tối đa nêu trên. Khoản đóng này được đưa vào quỹ hưu trí và tử tuất.
Ngân sách nhà nước hỗ trợ một phần mức đóng đối với người tham gia tự nguyện theo chính sách hiện hành.