Dòng vốn ngân hàng bám sát nhịp tăng trưởng
Bức tranh kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2026 cho thấy sự phân hóa đáng chú ý giữa hai địa phương. Tỉnh An Giang ghi nhận GRDP tăng 9,23%, dẫn đầu Đồng bằng sông Cửu Long và đứng thứ 16/34 tỉnh, thành phố, dù chưa đạt kịch bản 9,71%. Trong khi đó, tỉnh Cà Mau tăng trưởng ước 7,37%, thấp hơn bình quân cả nước 9,01% và còn khoảng cách đáng kể so với mục tiêu cả năm từ 10% trở lên.
Khác biệt về tốc độ tăng trưởng đặt ra yêu cầu điều hành tín dụng linh hoạt, phù hợp với cấu trúc kinh tế và nhu cầu vốn của từng địa bàn. Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực 15 cho thấy, tính đến cuối tháng 10/2026, tổng huy động vốn của các tổ chức tín dụng thuộc Khu vực 15 đạt 300.400 tỷ đồng, tăng 9,45% so với cuối năm 2025. Dư nợ tín dụng đạt 414.300 tỷ đồng, tăng 4,53%.
Đáng chú ý, nguồn vốn huy động tiếp tục được củng cố từ tiền gửi dân cư và dòng tiền phát sinh trong hoạt động thương mại, du lịch, xuất khẩu. Tiền gửi bằng đồng Việt Nam đạt khoảng 297.600 tỷ đồng, chiếm 99,1% tổng huy động; vốn ngắn hạn đạt 264.900 tỷ đồng, chiếm 88,2%.
Đây là nền tảng quan trọng để hệ thống ngân hàng duy trì khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, tỷ lệ huy động đáp ứng 72,5% nhu cầu vốn tín dụng của khu vực cũng cho thấy yêu cầu cân đối nguồn vốn, quản trị thanh khoản và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngày càng trở nên quan trọng.
Vốn ngân hàng đồng hành cùng chu kỳ đầu tư mới
Tại An Giang, tổng huy động vốn cuối tháng 10 ước đạt 200.900 tỷ đồng, tăng 10,22% so với cuối năm 2025; dư nợ tín dụng đạt 287.800 tỷ đồng, tăng 5,63%. Địa phương chiếm 66,9% tổng nguồn vốn huy động và 69,5% tổng dư nợ của Khu vực 15.
Nền kinh tế tăng tốc nhờ sự cộng hưởng của nhiều động lực. Sản lượng lúa đạt gần 7,4 triệu tấn, tăng 1,64%, trong đó 72,59% là lúa chất lượng cao. Sản lượng thủy sản đạt 1,29 triệu tấn, tăng 9,9%. Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 13,74%, riêng chế biến, chế tạo tăng 14,84%. Hoạt động xây dựng tăng 38,02%, gắn với các dự án phục vụ APEC 2027 và tuyến cao tốc Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng.

Trong bối cảnh đó, tín dụng tiếp tục đóng vai trò cung ứng vốn lưu động cho sản xuất, thu mua và chế biến nông sản, đồng thời hỗ trợ các doanh nghiệp thương mại, dịch vụ duy trì hoạt động. Dư nợ tín dụng đối với nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản đến cuối tháng 10 ước đạt 91.000 tỷ đồng, tăng 7,38% so với cuối năm 2025; tín dụng công nghiệp và xây dựng đạt 57.100 tỷ đồng, tăng 8,44%.
Điểm đáng lưu ý là tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn mức tăng dư nợ tín dụng. Điều này không nhất thiết phản ánh sự thiếu hụt vốn ngân hàng. Một phần động lực tăng trưởng đến từ đầu tư công, trong khi những dự án quy mô lớn có thể được tài trợ tại hội sở ngân hàng hoặc bằng các nguồn vốn khác, khiến dư nợ không được ghi nhận tại địa bàn triển khai. Dòng tiền thương mại và du lịch tăng mạnh cũng giúp một số doanh nghiệp chủ động hơn về vốn tự có.
Dẫu vậy, nhu cầu tín dụng đủ điều kiện vẫn là nút thắt cần tháo gỡ. Năng lực tài chính của doanh nghiệp, thủ tục pháp lý đất đai và khả năng đáp ứng điều kiện vay vốn tiếp tục ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng. Bởi vậy, mở rộng cho vay cần đi cùng cải thiện chất lượng dự án và sức khỏe tài chính của khách hàng.
Còn ở tỉnh Cà Mau, huy động vốn cuối tháng 10 đạt 99.500 tỷ đồng, tăng 7,93% so với cuối năm 2025; dư nợ tín dụng đạt 126.500 tỷ đồng, tăng 2,11%. Tốc độ tăng tín dụng thấp hơn An Giang, phản ánh phần nào những thách thức của nền kinh tế còn phụ thuộc đáng kể vào chu kỳ thủy sản và khả năng phục hồi của doanh nghiệp.
Qua 9 tháng năm 2026, sản lượng thủy sản của tỉnh đạt 971.130 tấn, tăng 6,7%; riêng tôm đạt 454.065 tấn, tăng 9,7%. Công nghiệp chế biến có chuyển biến tích cực khi chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 12,7%, sản lượng tôm chế biến tăng 16,8%. Xuất khẩu tăng 10,6%, nhưng kim ngạch xuất khẩu thủy sản chỉ tăng 5,1%, cho thấy sản lượng tăng chưa chuyển hóa tương xứng thành giá trị xuất khẩu.
Nghịch lý được mùa, mất giá tạo sức ép lên dòng tiền của người nuôi, doanh nghiệp thu mua và chế biến. Khi giá bán giảm, nhu cầu vốn lưu động có thể tăng nhưng khả năng trả nợ và điều kiện tiếp cận khoản vay mới lại suy yếu. Cùng với đó, giải ngân đầu tư công chậm, doanh nghiệp rút lui và nợ xấu có chiều hướng tăng khiến ngân hàng phải thận trọng hơn trong quyết định tín dụng.
Trong bối cảnh này, trọng tâm không chỉ là cung ứng thêm vốn, mà còn phải cải thiện khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Tín dụng cần ưu tiên các phương án sản xuất có đầu ra, doanh nghiệp có hợp đồng tiêu thụ khả thi, cơ sở chế biến có năng lực tài chính và những dự án năng lượng tái tạo đủ điều kiện triển khai. Với 36 dự án điện gió đã được chấp thuận chủ trương, Cà Mau có thêm dư địa hình thành động lực tăng trưởng mới, song khả năng chuyển hóa thành nhu cầu tín dụng thực tế còn phụ thuộc tiến độ pháp lý, đầu tư và giải ngân.
Chuyển từ tăng dư nợ sang nâng chất lượng dòng vốn
Một điểm sáng chung là tín dụng tiếp tục hướng vào các lĩnh vực sản xuất và ưu tiên. Đến cuối tháng 10/2026, dư nợ phục vụ sản xuất, kinh doanh của Khu vực 15 đạt 339.500 tỷ đồng, chiếm 81,9% tổng dư nợ. Tín dụng xuất khẩu đạt khoảng 16.100 tỷ đồng, tăng 35,62% so với cuối năm 2025. Đây là những dòng vốn có khả năng hỗ trợ trực tiếp hoạt động sản xuất, lưu thông hàng hóa và tạo nguồn thu ngoại tệ.
Các chương trình tín dụng chính sách cũng mở rộng cơ hội tiếp cận vốn. Đến cuối tháng 9, dư nợ cho vay theo Nghị định 55 về phát triển nông nghiệp, nông thôn đạt 214.367 tỷ đồng, tăng 5,01%. Chương trình tín dụng dành cho lĩnh vực nông, lâm, thủy sản ghi nhận doanh số giải ngân 38.804 tỷ đồng, với 9.729 lượt khách hàng vay. Đối với nhà ở xã hội, các tổ chức tín dụng đã giải ngân 799 tỷ đồng cho sáu dự án và người mua nhà trên địa bàn hai tỉnh.
Tuy nhiên, tín dụng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn là vấn đề cần quan tâm. Dư nợ nhóm khách hàng này đến cuối tháng 9 đạt 52.376 tỷ đồng, giảm 10,61% so với cuối năm 2025. Đây là tín hiệu đáng chú ý bởi khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò quan trọng trong thu mua nông sản, chế biến, vận tải và cung ứng dịch vụ. Nếu thiếu vốn kéo dài, sức lan tỏa của tăng trưởng từ các ngành chủ lực sẽ bị hạn chế.
Những tháng cuối năm 2026, yêu cầu đặt ra với ngành Ngân hàng Khu vực 15 là tiếp tục bảo đảm nguồn vốn cho các lĩnh vực ưu tiên, đồng thời nâng cao chất lượng thẩm định, chủ động cơ cấu thời hạn trả nợ phù hợp với chu kỳ sản xuất và tăng cường kết nối ngân hàng – doanh nghiệp. Việc tháo gỡ vướng mắc pháp lý, đẩy nhanh đầu tư công và cải thiện liên kết giữa người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp chế biến với đơn vị xuất khẩu sẽ tạo điều kiện để dòng vốn lưu thông hiệu quả hơn.
Suy cho cùng, vai trò của ngân hàng không chỉ nằm ở khả năng cung ứng hàng trăm nghìn tỷ đồng tín dụng, mà còn ở việc giúp dòng vốn đi đúng nơi có khả năng tạo ra giá trị gia tăng. Với An Giang, đó là tận dụng làn sóng đầu tư hạ tầng, chế biến nông sản và dịch vụ. Với Cà Mau, đó là nâng giá trị chuỗi tôm, củng cố doanh nghiệp và từng bước khai mở động lực năng lượng mới. Khi tín dụng được kết nối chặt chẽ với thị trường đầu ra và tiến độ dự án, nguồn lực tài chính mới thực sự trở thành bệ đỡ cho tăng trưởng bền vững của cả hai địa phương.
ThS. Trần Văn Phước, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực 15 chia sẻ, trong những tháng cuối năm, điều quan trọng không phải thúc đẩy tín dụng bằng mọi giá, mà là đưa vốn đến đúng khu vực đang có khả năng tạo ra giá trị gia tăng và dòng tiền trả nợ bền vững. Tỉnh An Giang cần gắn tín dụng với tiến độ các dự án hạ tầng, nhu cầu nguyên liệu của ngành chế biến và cơ hội mở rộng thị trường nông sản. Còn Cà Mau cần tập trung hơn vào chuỗi giá trị tôm, từ người nuôi, hợp tác xã đến doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu, đồng thời chuẩn bị nguồn vốn cho những dự án năng lượng đủ điều kiện triển khai.
“Ngân hàng không thể một mình giải quyết bài toán tăng trưởng nếu doanh nghiệp thiếu đơn hàng, dự án vướng pháp lý hoặc giá nông sản biến động bất lợi. Vì vậy, phối hợp giữa ngân hàng, chính quyền, hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp cần thực chất hơn: minh bạch thông tin thị trường, tháo gỡ thủ tục đầu tư, chia sẻ rủi ro hợp lý và nâng cao năng lực quản trị tài chính của khách hàng. Khi khả năng hấp thụ vốn được cải thiện, tín dụng sẽ không chỉ tăng về quy mô mà còn tạo sức bật rõ nét hơn cho sản xuất, việc làm và sức cạnh tranh của nền kinh tế địa phương”, ThS. Trần Văn Phước nêu quan điểm.