Ngân hàng Khu vực 11: Khơi thông nguồn vốn, thúc đẩy động lực tăng trưởng bền vững năm 2026
(Banker.vn) Trong bối cảnh nền kinh tế Tây Nguyên đang nỗ lực chuyển mình sau những thách thức của thiên tai cuối năm 2025, hoạt động ngân hàng tại Ngân hàng Nhà nước Khu vực 11 (gồm tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Gia Lai) đang thể hiện vai trò then chốt. Với mục tiêu tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GRDP) đầy tham vọng trong năm 2026, dòng vốn tín dụng không chỉ là nguồn lực cho sản xuất mà còn là công cụ điều tiết quan trọng thúc đẩy các động lực tăng trưởng bền vững.
Hiệu quả đầu tư tín dụng: Khơi thông dòng vốn vào các động lực tăng trưởng
Năm 2026, mở đầu với những mục tiêu đầy thách thức cho hai tỉnh trọng điểm Tây Nguyên. Theo Kế hoạch tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Đắk Lắk đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP lên tới 10,02%, trong khi Gia Lai phấn đấu đạt mức từ 8,8% - 9,4%, thậm chí trên 10%. Đây là mục tiêu thể hiện quyết tâm bứt phá của chính quyền địa phương trong giai đoạn 2026 - 2030.
Nhìn lại năm 2025, sự phân hóa trong các động lực tăng trưởng khá rõ nét. Tại Đắk Lắk, khu vực công nghiệp và xây dựng dẫn đầu với mức tăng 9,19%, trong khi nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,53%. Tại Gia Lai, khu vực công nghiệp - xây dựng còn ấn tượng hơn với mức tăng 11,12%. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng “hai con số” cho năm 2026, vai trò của “bơm vốn” tín dụng từ hệ thống ngân hàng trên địa bàn Khu vực 11 là không thể thay thế.
margin: 15px auto;" />Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước Khu vực 11 cho thấy, ước đến cuối tháng 1/2026, tổng dư nợ của hệ thống ngân hàng trên địa bàn đạt 521.150 tỷ đồng, tăng 1,0% so với cuối năm 2025. Việc duy trì đà tăng trưởng tín dụng ngay trong tháng đầu năm cho thấy sự chủ động của các tổ chức tín dụng (TCTD) trong việc đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất và tiêu dùng dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ. Cơ cấu dư nợ theo ngành kinh tế cho thấy sự dịch chuyển đáng chú ý:
Thương mại và Dịch vụ: Chiếm tỷ lệ lớn với 332.360 tỷ đồng (khoảng 63,8% tổng dư nợ). Điều này phản ánh sự năng động của khu vực kinh tế tư nhân và nhu cầu vốn lưu động cao trong các hoạt động giao thương tại thủ phủ cà phê và hồ tiêu.
Nông, lâm nghiệp và thủy sản: Dư nợ đạt 110.890 tỷ đồng (chiếm 21,3%). Đây là ngành “xương sống” của Tây Nguyên. Tín dụng nông nghiệp, nông thôn đạt 268.050 tỷ đồng, chiếm hơn 51% tổng dư nợ, cho thấy dòng vốn vẫn đang bám sát đặc thù kinh tế vùng.
Công nghiệp và Xây dựng: Dư nợ đạt 77.900 tỷ đồng. Đây là khu vực có tốc độ tăng trưởng GRDP cao nhất, cho thấy hiệu quả sử dụng vốn (ICOR) trong lĩnh vực này đang có chuyển biến tích cực, góp phần hiện đại hóa cơ cấu kinh tế địa phương.
Điểm sáng trong quản trị rủi ro: Chất lượng tín dụng hệ thống ngân hàng trên địa bàn Ngân hàng Nhà nước Khu vực 11 là khả năng kiểm soát NHNN.">nợ xấu. Tỷ lệ nợ xấu toàn khu vực duy trì ở mức thấp 1,11%, giảm so với mức 1,17% của cuối năm trước. Đặc biệt tại Đắk Lắk, tỷ lệ này chỉ ở mức 0,98%. Trong bối cảnh người dân và doanh nghiệp vừa trải qua thiệt hại do cơn bão số 12 và cơn bão số 13 diễn ra cuối năm 2025, con số này minh chứng sự hiệu quả của các biện pháp cơ cấu lại thời hạn trả nợ và hỗ trợ lãi suất kịp thời.
Các kết quả đạt được không thể không nhắc đến vai trò của Ngân hàng Chính sách xã hội. Với tổng dư nợ đạt 30.868 tỷ đồng vào cuối tháng 1/2026, dòng vốn này đã tiếp cận đến 668.242 lượt khách hàng, hỗ trợ yếu thế cho vay hộ nghèo, cận nghèo chiếm 36% dư nợ. Cho vay tạo việc làm chiếm 30,1% dư nợ.
Sự kết hợp giữa tín dụng thương mại và tín dụng chính sách đã tạo ra một “tấm lưới” tài chính vững chắc, vừa thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương, vừa đảm bảo an sinh, hạn chế vấn nạn “tín dụng đen” tại vùng sâu, vùng xa.
Giải pháp chính sách tài khóa - tín dụng năm 2026
Để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế như kỳ vọng, ông Nguyễn Kim Cương, Quyền Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Khu vực 11 chia sẻ, ngân hàng trên địa bàn cần thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp sau:
Một là, điều hành tín dụng linh hoạt, tập trung vào chất lượng: Ngân hàng Nhà nước Khu vực 11 chỉ đạo các TCTD tiếp tục mở rộng tín dụng gắn với nâng cao chất lượng tài sản. Ưu tiên vốn cho các lĩnh vực là động lực tăng trưởng mới như công nghiệp chế biến nông sản, năng lượng tái tạo và các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp. Mục tiêu là hỗ trợ tăng trưởng kinh tế “hai con số” nhưng phải đảm bảo an toàn hệ thống.
Hai là, quyết liệt thực hiện các gói hỗ trợ sau thiên tai: Tiếp tục giám sát chặt chẽ việc thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giảm lãi suất cho 63.693 khách hàng bị ảnh hưởng bởi bão lũ cuối năm 2025. Việc cho vay mới với lãi suất thấp hơn từ 1,0 - 2,0%/năm cần được triển khai nhanh chóng để doanh nghiệp có vốn tái sản xuất kịp thời.
Ba là, đẩy mạnh chuyển đổi số và cải cách thủ tục: Tiếp tục thực hiện kế hoạch nâng cao Chỉ số đổi mới sáng tạo (PII) cấp địa phương cần được cụ thể hóa bằng hành động. Việc số hóa hồ sơ thủ tục hành chính và triển khai các dịch vụ công trực tuyến toàn trình không chỉ giảm chi phí cho doanh nghiệp mà còn tăng tính minh bạch trong hoạt động ngân hàng.
Bốn là, tăng cường kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp: Tiếp tục duy trì và nâng cao hiệu quả các hội nghị đối thoại. Với doanh số cho vay từ chương trình kết nối đạt hơn 32.000 tỷ đồng trong năm qua, đây chính là kênh quan trọng để tháo gỡ trực tiếp các điểm nghẽn về vốn, đặc biệt là cho nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa - vốn chỉ mới chiếm 14% tổng dư nợ.
Dòng vốn tín dụng trên địa bàn Ngân hàng Nhà nước Khu vực 11 đang chảy đúng hướng, tập trung vào những lĩnh vực trọng yếu và có sự kiểm soát rủi ro chặt chẽ. Tuy nhiên, hành trình chinh phục mục tiêu tăng trưởng trên 10% trong năm 2026 đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng hơn nữa giữa chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước và chính sách tài khóa của địa phương. Với nền tảng nợ xấu thấp và tính thanh khoản dồi dào (vốn huy động tăng 1,0% ngay trong tháng 1), hệ thống ngân hàng tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Gia Lai hoàn toàn có đủ tiềm lực để trở thành "bệ phóng" đưa kinh tế vùng đạt được những đỉnh cao mới.
ThS.Trần Trọng Triết – ThS. Đinh Quang Tuấn

