Lịch âmCông cụ tínhDashboardSPECIAL
Tin mớiNgân hàngVN30
Banker.vn - Tin tức Tài chính Ngân hàng
banner
  • Trang chủ
  • Ngân hàng
  • Thị trường
  • Tài chính
  • Quốc tế
  • Công nghệ
  • Xã hội
  • Đầu tư
  • Năng lượng
  • FTA
  • Giá xe
HOT
Banker Logo
Tin mới
Banker Logo
Trang chủ

Tài chính - Ngân hàng

Ngân hàng
Thị trường
Tài chính
Đầu tư

Tin tức

Quốc tế
Công nghệ
Xã hội
Năng lượng
FTA

Tiện ích

Giá xe
Tin mới nhất
Trang chủChứng khoán

Chuyển đổi số hệ thống Quỹ Tín dụng nhân dân: Góp phần hạn chế “tín dụng đen” và thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển

30/01/2026 - 07:278 phút đọcGoogle News

(Banker.vn) Chuyển đổi số là một quá trình liên tục, không phải dự án ngắn hạn. Với sự định hướng của Ngân hàng Nhà nước, sự “dẫn dắt” của Ngân hàng Hợp tác xã (NHHTX) Việt Nam và sự quyết tâm của mỗi Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND sẽ thực hiện thành công mục tiêu hiện đại hóa, khẳng định vị thế là “trụ cột” tài chính của cộng đồng, góp phần hạn chế “tín dụng đen” và thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.

Chuyển đổi số là “Cánh cửa” sinh tồn

Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, chuyển đổi số đối với hệ thống QTDND không còn là một lựa chọn “chạy theo xu hướng” mà là yêu cầu tất yếu để tồn tại và phát triển. Các QTDND đang hoạt động chủ yếu tại khu vực nông thôn, QTDND đóng vai trò “then chốt” trong việc thực hiện tài chính toàn diện và đẩy lùi “tín dụng đen”.

Hệ thống QTDND, tổ chức tín dụng hoạt động theo mô hình hợp tác xã với phạm vi hoạt động bị giới hạn trong địa bàn một xã, phường hoặc thị trấn (có những trường hợp QTDND có thể mở rộng địa bàn hoạt động sang các xã, phường lân cận, nhưng phải đáp ứng các điều kiện nhất định theo quy định của NHNN), việc thay đổi địa giới hành chính đang tạo ra những tác động trực tiếp về địa bàn hoạt động của QTDND.

Theo thống kê của Hiệp hội QTDND, cả nước có 1.176 QTDND đang hoạt động, chủ yếu trên địa bàn một xã, một phường hoặc một thị trấn theo đơn vị hành chính cũ, chỉ một số ít QTDND được cấp phép hoạt động liên xã. Có khoảng 1.600 xã trong tổng số 10.035 xã/phường/thị trấn cũ có QTDND hoạt động (khoảng 16%).

Sau khi thực hiện sắp xếp, số lượng xã mới trên cả nước giảm xuống còn 3.211 đơn vị hành chính cấp xã; trong đó, có 591 QTDND đang hoạt động độc lập trên địa bàn 591 xã mới (mỗi xã chỉ có 1 QTDND); có 585 QTDND cùng hoạt động trên địa bàn của 242 xã mới (mỗi xã có từ 2 đến 6 QTDND đặt trụ sở chính). Như vậy, tổng số xã mới có hoạt động của QTDND là khoảng 840 xã/3.211 xã, chiếm khoảng 26% tổng số đơn vị hành chính cấp xã sau sắp xếp.

Những thay đổi này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiến hành rà soát lại địa bàn hoạt động, điều chỉnh giấy phép, hoặc tái cơ cấu, hợp nhất các QTDND để đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật và phù hợp với địa giới hành chính mới. Đây là thách thức không nhỏ cho hệ thống QTDND, nhưng đồng thời cũng là cơ hội để sắp xếp lại mô hình hoạt động theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp, bền vững hơn, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội tại từng địa phương sau sáp nhập.

Các QTDND cần chủ động đổi mới tư duy quản trị, nâng cao năng lực điều hành, tăng cường công tác truyền thông và phát triển các sản phẩm, dịch vụ phù hợp với đặc điểm địa bàn, đúng với tôn chỉ, mục đích hoạt động, nhằm mở rộng quy mô thành viên và dư nợ tín dụng, đồng thời bảo đảm an toàn, hiệu quả hoạt động. Việc mở rộng tín dụng cần được thực hiện trên cơ sở kiểm soát chặt chẽ rủi ro, tuyệt đối không hạ chuẩn cho vay để chạy theo tăng trưởng quy mô dư nợ tín dụng.

Trong đó, QTDND cần tập trung phát huy lợi thế cạnh tranh đặc thù như thủ tục đơn giản, phương thức phục vụ linh hoạt, gắn bó chặt chẽ và am hiểu địa bàn, ưu tiên các khoản vay nhỏ lẻ phục vụ đời sống dân cư, sản xuất - kinh doanh quy mô nhỏ, nông nghiệp ngắn ngày và các hoạt động sinh kế thiết yếu của thành viên - những phân khúc mà QTDND có ưu thế so với các tổ chức tín dụng khác. Bảo đảm nguyên tắc tín dụng gắn với tiết kiệm, bám sát dòng tiền thực tế, nâng cao vai trò và trách nhiệm của đội ngũ cộng tác viên trong việc giám sát, hỗ trợ và điều chỉnh mô hình cho vay phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của từng địa bàn.

Trong bối cảnh áp lực chuyển đổi số, phát triển bền vững ngày càng trở thành một chuẩn mực mới. QTDND với quy mô nhỏ, cấu trúc tổ chức gọn, nguồn lực hạn chế, đang phải đối diện với “thách thức kép”: Vừa tuân thủ các chuẩn mực an toàn - an ninh tài chính, phòng ngừa rủi ro hệ thống; vừa phải chuyển hóa mô hình tăng trưởng theo hướng minh bạch, trách nhiệm, bền vững.

margin: 15px auto;" />
Ảnh minh họa

Trong khi các chuẩn mực số hóa đang tiếp tục được nâng cấp, thì “hạ tầng chuẩn” để áp dụng vào mô hình QTDND tại Việt Nam vẫn còn nhiều khoảng trống. Điều này khiến QTDND đứng trước nguy cơ tụt hậu, thậm chí bị “gạt ra ngoài” hệ sinh thái tài chính bền vững trong tương lai nếu không chủ động tái cấu trúc từ sớm. Có thể nhận diện một số thách thức nổi bật dưới góc nhìn chuyển đổi số, như sau:

Một là, chưa có khung tiêu chí chuyển đổi số đặc thù để triển khai: Hiện nay chưa tồn tại hệ thống Core Banking “may đo” riêng cho mô hình QTDND. Vì vậy, QTDND thiếu một “bản đồ hành động” rõ ràng để biết cần cải thiện KPI chuyển đổi số theo hướng nào, ở mức độ đến đâu, theo chuẩn nào để được công nhận rộng rãi và phù hợp thông lệ.

Hai là, hạn chế về dữ liệu, năng lực, công nghệ tạo rào cản cốt lõi trong đo lường: Thách thức lớn nhất không phải ở “tuyên bố chuyển đổi số” mà là năng lực đo lường, giám sát, báo cáo. Nhiều QTDND hiện chưa có hệ thống thông tin quản lý (MIS) để thu thập, xử lý, tổng hợp chỉ tiêu chuyển đổi số; cán bộ tín dụng chưa được đào tạo về nhận diện rủi ro chuyển đổi số trong hồ sơ vay; mức độ số hóa hoạt động lõi. Điều này khiến QTDND khó chuyển đổi số theo hướng định lượng.

Ba là, nguồn lực tài chính mỏng và chi phí chuyển đổi quá lớn so với quy mô: Triển khai chuyển đổi số đòi hỏi đầu tư thực chất như nâng cấp hệ thống công nghệ, mua phần mềm đo lường rủi ro, đào tạo nhân sự chuyên sâu, thuê tư vấn, cần kiểm toán độc lập. Những chi phí này, khi chia bình quân trên quy mô tài sản nhỏ của QTDND sẽ trở thành “gánh nặng” đáng kể, đồng nghĩa với chi phí trở thành rào cản kép.

Bốn là, minh bạch thông tin còn hạn chế và thiếu nền tảng dữ liệu đáng tin cậy: Tính minh bạch vẫn là điểm yếu rõ nét, dữ liệu thiếu chuẩn hóa. Điều này khiến các bên liên quan, từ cơ quan quản lý, thành viên góp vốn gặp khó khăn trong việc đánh giá mức độ rủi ro và triển vọng số hóa của QTDND.

Năm là, liên kết hệ thống còn yếu, chưa hình thành “kinh tế quy mô số”: Một QTDND đơn lẻ rất khó tự thân đạt chuẩn số hóa do quy mô quá nhỏ. Chìa khóa nằm ở liên kết hệ thống thông qua các nền tảng chung như chia sẻ dữ liệu, dịch vụ dùng chung, cơ chế giám sát, hỗ trợ, tư vấn theo cụm và vai trò kiến tạo chuẩn chuyển đổi số của NHHTX. Tuy nhiên, mức độ liên kết hiện nay còn hạn chế, chưa tạo được “lợi thế quy mô” cho chuyển đổi số. Do đó, mỗi QTDND vẫn phải tự chuyển đổi, dẫn đến chi phí cao và hiệu quả thấp.

Dù đã có những bước tiến ban đầu như ứng dụng phần mềm kế toán và thực hiện báo cáo điện tử, hệ thống QTDND đang đối mặt với những “điểm nghẽn” lớn, gồm:

Sự phân tán: Việc đầu tư công nghệ riêng lẻ gây tốn kém, rủi ro cao và không đồng bộ.

Hạn chế nguồn lực: Thiếu hụt cả về tài chính lẫn nhân sự công nghệ trình độ cao.

Lỗ hổng quản trị: Lãnh đạo một số QTDND còn hạn chế về công nghệ và kiến thức quản trị tài chính hiện đại.

Giải pháp trọng tâm: Mô hình “hạ tầng tập trung – vận hành phân tán”

Để chuyển đổi số thành công, cần xác lập vai trò “đầu tàu” của NHHTX Việt Nam trong việc cung cấp hạ tầng số dùng chung.

Thứ nhất, đối với NHHTX Việt Nam – Vai trò dẫn dắt: Hoàn thiện hạ tầng số dùng chung: Cung cấp hệ thống Core Banking, nền tảng thanh toán và ngân hàng số (như Co-opBank Mobile Banking) đồng bộ cho toàn bộ các QTDND thành viên.

Chính sách phí “0 đồng”: Tiếp tục duy trì và mở rộng chính sách miễn phí triển khai, phí giao dịch điện tử để giảm áp lực tài chính cho các QTDND quy mô nhỏ.

Đào tạo và Hỗ trợ kỹ thuật: Tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên sâu cho lãnh đạo QTDND về quản trị tài chính số, an ninh mạng và quản trị rủi ro.

Thứ hai, đối với QTDND – Vai trò thực thi: Thay đổi tư duy quản trị: Lãnh đạo các quỹ cần xác định chuyển đổi số là một quá trình liên tục, dài hạn chứ không phải là dự án ngắn hạn.

Triển khai mô hình mẫu: Lựa chọn các QTDND tiêu biểu theo từng khu vực để thí điểm, từ đó tổng kết và nhân rộng kinh nghiệm cho toàn hệ thống.

Kiến nghị chính sách

Để tháo gỡ các điểm nghẽn, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số tại các QTDND, nhóm tác giả cho rằng, cần có những cơ chế đặc thù:

Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý đặc thù cho chuyển đổi số hệ thống QTDND: NHNN tiếp tục rà soát, bổ sung và hoàn thiện cơ chế, chính sách về ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số đối với mô hình tổ chức tín dụng hợp tác, bảo đảm phù hợp với quy mô, đặc thù hoạt động của QTDND; đồng thời hài hòa giữa yêu cầu đổi mới, an toàn hệ thống và năng lực quản trị thực tế của các quỹ.

Thứ hai, khẳng định vai trò trung tâm của NHHTX Việt Nam trong kiến trúc số hệ thống QTDND: Xác lập rõ NHHTX Việt Nam là đầu mối đầu tư, quản trị và vận hành hạ tầng công nghệ thông tin, nền tảng ngân hàng số, hệ thống thanh toán và an toàn dữ liệu dùng chung cho toàn hệ thống QTDND; qua đó tránh đầu tư phân tán, giảm chi phí và bảo đảm tuân thủ các chuẩn mực an toàn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Thứ ba, triển khai lộ trình chuyển đổi số theo nguyên tắc tập trung – đồng bộ – phù hợp: Chuyển đổi số trong hệ thống QTDND cần được thực hiện theo lộ trình thống nhất, ưu tiên các nghiệp vụ cốt lõi như kế toán, tín dụng, thanh toán, báo cáo; không triển khai dàn trải, không chạy theo công nghệ, bảo đảm phù hợp với mức độ sẵn sàng và năng lực quản trị rủi ro của từng QTDND.

Thứ tư, tăng cường giám sát, quản lý rủi ro công nghệ và an toàn hệ thống: NHNN tăng cường công tác giám sát, thanh tra việc triển khai chuyển đổi số trong hệ thống QTDND; chú trọng các rủi ro về công nghệ thông tin, an ninh mạng, bảo mật dữ liệu, phòng chống gian lận, bảo đảm an toàn hệ thống tín dụng hợp tác.

Thứ năm, chú trọng phát triển nguồn nhân lực số cho hệ thống QTDND: Khuyến khích và định hướng NHHTX Việt Nam phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về quản trị tài chính, quản trị công nghệ và kỹ năng số cho đội ngũ lãnh đạo, cán bộ QTDND; coi đây là điều kiện then chốt để chuyển đổi số hiệu quả và bền vững.

Thứ sáu, thí điểm – tổng kết – nhân rộng mô hình chuyển đổi số hiệu quả: Lựa chọn một số QTDND tiêu biểu theo vùng, miền để triển khai thí điểm mô hình chuyển đổi số; trên cơ sở tổng kết, đánh giá, từng bước nhân rộng trong toàn hệ thống, bảo đảm chuyển đổi số đi vào thực chất, tránh hình thức.

Cần có cơ chế linh hoạt, tạo điều kiện để các QTDND triển khai chuyển đổi số phù hợp với quy mô và năng lực quản trị rủi ro thực tế của từng đơn vị.

Sự kết hợp giữa hạ tầng số hiện đại của NHHTX và sự quyết tâm đổi mới của từng QTDND sẽ tạo nên một hệ sinh thái tài chính số vững mạnh. Điều này không chỉ giúp bảo vệ “sức khỏe” tài chính của các QTDND (như các chỉ số an toàn) mà còn thúc đẩy kinh tế – xã hội nông thôn phát triển bền vững.

ThS. Võ Thanh Nhàn - ThS.Trần Trọng Triết

Theo: Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ
    Bài cùng chuyên mục

      Tiêu điểm tuần

      • Ảnh bài viết

        Cảnh báo tình trạng nhiễu loạn thông tin dinh dưỡng trên mạng xã hội

      • Giá lúa gạo hôm nay ngày 27/1/2026: Thị trường trầm lắng

      • Chủ động triển khai Luật Hóa chất, bảo đảm sản xuất thông suốt

      • Lãi suất ngân hàng hôm nay 25/1: Gửi tiền kỳ hạn nào lãi cao nhất?

      • Xét chọn sản phẩm thương hiệu quốc gia lần thứ 10 theo quy định mới

      • Giá cà phê hôm nay 23/1/2026: Bật tăng mạnh mẽ

      • Khấu hao có phải là nguyên nhân khiến dòng tiền của doanh nghiệp bị ảnh hưởng?

      Lãi suất ngân hàng

      Lãi suất 6 tháng cao nhất: PGBank 7.1%
      Lãi suất 12 tháng cao nhất: PGBank 7.2%
      Ngân hàng1T6T12T
      Ngân hàng An Bình3.86.36.3
      Ngân hàng Á Châu3.54.55.3
      Agribank2.645.2
      Ngân hàng Bắc Á4.556.86.85
      Ngân hàng Bảo Việt3.75.55.8

      Tỷ giá ngoại tệ

      Ngoại tệMuaBán
      USD25.71026.100
      EUR30.100,5631.688,17
      GBP34.752,7936.228,84
      JPY162,57172,9
      CNY3.635,33.789,7
      AUD17.687,0518.438,27
      SGD19.925,1620.813,03
      KRW15,618,81
      CAD18.687,7319.481,45
      CHF32.871,9234.268,09

      Giao dịch hàng hoá

      Hàng hoáGiá%
      Vàng5,448.39+2.03%
      Bạc116.72+2.81%
      Dầu WTI65.66+3.88%
      Dầu Brent69.71+3.47%
      Khí thiên nhiên3.88-48.06%
      Đồng6.30+6.25%
      Cà phê Hoa Kỳ loại C345.00-1.71%
      Cà phê London4,184.00+5.02%
      Than cốc luyện kim Trung Quốc1,633.000.00%
      Xăng RBOB1.93+1.48%
      Banker.vn Logo

      Trang tin tức tài chính - ngân hàng hàng đầu Việt Nam. Cập nhật nhanh chóng, chính xác các thông tin về lãi suất, tỷ giá, chứng khoán và thị trường tài chính.

      Chuyên mục

      • Ngân hàng
      • Thị trường
      • Tài chính
      • Quốc tế
      • Công nghệ
      • Xã hội

      Tin tức

      • Đầu tư
      • Năng lượng
      • FTA
      • Tin ngân hàng
      • Tin chứng khoán

      Công cụ

      • Công cụ tài chính
      • Từ điển thuật ngữ
      • Bảng giá VN30
      • Về chúng tôi
      • Liên hệ quảng cáo
      • Điều khoản sử dụng
      • Chính sách bảo mật

      Liên hệ

      • 16 Văn Cao, P. Liễu Giai,
        Q. Ba Đình, Hà Nội
      • 024.3999.2518
      • info@ubgroup.vn

      Dashboard Ngân hàng

      BIDVBIDVAgribankAgribankVietcombankVietcombankLPBankLPBankXem tất cả

      Đọc tin theo Ngân hàng

      ACBABBankBAC A BANKCBBankCo-opBankDongA BankTPBankTechcombankVietcombankVietinBankBIDVAgribankNAM A BANKSeABankSacombankLienVietPostBankHDBankVPBankNCBVietA BankKienlongbankSCBSHBSaigonbankSBVBAOVIET BankMBMBBankOceanbankGPBankPG BankVIBMSBEximbankPVcomBankVietbankNgân hàng Bản ViệtHSBCShinhan BankStandard CharteredWoori BankCIMB BankPublic BankHong Leong BankUOBANZIVBVRBVDBNgân hàng Chính sách xã hộiNgân hàng Nhà nước

      Đơn vị chủ quản: Công ty Cổ phần Tập đoàn UB

      Giấy phép số 2489/GP-TTĐT do Sở TT&TT TP. Hà Nội cấp ngày 27/08/2020

      ĐKKD số 0106080414 do Sở KH&ĐT TP. Hà Nội cấp ngày 09/01/2013

      Chịu trách nhiệm nội dung: Vũ Việt Hưng

      Mọi hành vi sao chép nội dung cần ghi rõ nguồn Banker.vn

      © 2026 Banker.vn - Bản quyền thuộc về Công ty Cổ phần Tập đoàn UB

      RSS Feed|Thiết kế bởi UB Group