Vùng đất nằm xa về phía Tây của Nghệ An, đường biên dài 18 km giáp Lào đang có sự chuyển mình rõ nét, là điểm sáng sau sáp nhập
(Banker.vn) Vùng đất biên giới này của Nghệ An đang ghi nhận những chuyển biến đáng chú ý trong kinh tế – xã hội.
Bức tranh phát triển kinh tế – xã hội 5 năm qua
Xã Tri Lễ mới (tỉnh Nghệ An) được thành lập trên cơ sở sáp nhập hai xã Tri Lễ và Nậm Nhoóng cũ, trở thành địa bàn có diện tích tự nhiên hơn 26.194ha và 14.432 nhân khẩu. Đây là xã biên giới có đường biên dài 18,53 km giáp Lào, giữ vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng – an ninh. Dân cư chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số Thái, Mông, Khơ Mú cùng một bộ phận người Kinh. Tỷ lệ hộ nghèo chiếm 54,31%, hộ cận nghèo 30,81%, phản ánh rõ những thách thức đặc thù của một xã miền núi cao, giao thông khó khăn, hạ tầng còn hạn chế và chất lượng nguồn nhân lực chưa đồng đều.

Trong 5 năm qua, cơ cấu kinh tế của xã chuyển dịch theo hướng phù hợp với điều kiện địa phương, khai thác hiệu quả nông – lâm – ngư nghiệp. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 7,75%/năm, thu nhập bình quân đầu người năm 2025 ước đạt 14,28 triệu đồng. Tổng vốn đầu tư xã hội đạt hơn 150 tỷ đồng/năm, tạo động lực cho hạ tầng và sản xuất.
Nông – lâm – ngư nghiệp tiếp tục là trụ cột phát triển. Tổng sản lượng lương thực tăng từ 4.927 tấn (2020) lên 16.277 tấn (2025). Đàn gia súc, gia cầm vượt 31.000 con, diện tích nuôi trồng thủy sản 45,5 ha đạt năng suất 18 tạ/ha. Hơn 22.000 ha rừng giao cho cộng đồng và hộ dân được khoanh nuôi, bảo vệ, góp phần tăng thu nhập từ dịch vụ môi trường rừng.
Công nghiệp – xây dựng đạt giá trị ước 54,3 tỷ đồng; dịch vụ – thương mại đạt 89,2 tỷ đồng năm 2025. Tổng thu ngân sách 5 năm đạt 328,87 tỷ đồng, bảo đảm chi cho phát triển và an sinh xã hội. Xã đã hoàn thành 12/19 tiêu chí nông thôn mới, diện mạo nông thôn chuyển biến tích cực với các công trình giao thông, thủy lợi, trường học, nhà bán trú được đầu tư, nâng cấp.
Bước vào giai đoạn 2025–2030, Tri Lễ định hướng phát triển kinh doanh – dịch vụ song song với nâng cao hiệu quả sản xuất nông – lâm nghiệp theo hướng hàng hóa. Xã cũng đặt mục tiêu cải cách hành chính, ứng dụng chuyển đổi số và khoa học – công nghệ để nâng cao năng suất và sức cạnh tranh. Cùng với đó là mục tiêu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, bảo đảm nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển mới.
Điểm sáng thay đổi từ nghị quyết của chi bộ
Bản Pà Khốm, cách trung tâm xã khoảng 10 km, ở độ cao gần 1.000 m là ví dụ điển hình cho sự đổi thay của Tri Lễ. Trước đây, nhiều tập quán lạc hậu còn tồn tại, đời sống khó khăn, tỷ lệ đói nghèo cao, một số hộ di cư tự do hoặc trồng cây thuốc phiện. Từ năm 2021, Chi bộ bản ban hành Nghị quyết chuyên đề về quản lý, bảo vệ và phát triển cây măng đắng – loài cây đặc trưng gắn với sinh kế của người dân. Nghị quyết yêu cầu cán bộ, đảng viên đi đầu tuyên truyền vận động, khoanh nuôi và chăm sóc diện tích rừng măng đắng.

Kết quả, diện tích măng đắng tăng từ 5,3 ha (2018) lên 13,3 ha. Nhiều hộ có diện tích lớn như ông Thò Nhìa Thông (2 ha), Thò Nỏ Pó (1 ha). Măng đắng trở thành đặc sản được thương lái thu mua với giá 5.000 – 15.000 đồng/kg, giúp mỗi hộ thu khoảng 10 triệu đồng/ha/năm.
Song song đó, bản cũng phát triển đào Mông – loại cây phù hợp khí hậu, mang lại thu nhập cao. Toàn bản hiện có hơn 6.000 gốc đào, nhiều hộ sở hữu tới vài trăm gốc. Mỗi dịp Tết, việc bán cành đào mang lại nguồn thu đáng kể cho nhiều gia đình. Các mô hình khai thác cây bo bo cũng được thúc đẩy khi xuất hiện cơ sở thu mua, chế biến trên địa bàn.
Đời sống người dân cải thiện rõ rệt: 98 hộ có xe máy, 82 hộ được kéo đường nước sạch về nhà. Con đường dốc lên bản được bê tông hóa hơn 600 m, người dân tự đóng góp làm thêm 76 m đường vào nhà văn hóa cộng đồng. Tình trạng học sinh bỏ học giảm mạnh, xuất hiện con em theo học cao đẳng, đại học; phụ nữ tham gia các lớp xóa mù chữ.
Chi bộ Pà Khốm cũng triển khai nhiều nghị quyết hướng đến phát triển bền vững: bảo tồn văn hóa Mông, duy trì nghề rèn, đội khèn, đội văn nghệ; trồng thêm đào dọc đường vào bản, mở rộng nuôi trồng thủy sản lên hơn 3.200 m² để góp phần giảm nghèo. Các định hướng đều nhằm tạo sinh kế từ cây bản địa như măng đắng, đào Mông, khoai sọ, bo bo, gà đen, bò Mông.
Những thay đổi này cho thấy vai trò của tổ chức cơ sở trong việc vận động, định hướng và tổ chức sản xuất, từ đó góp phần tạo chuyển biến tích cực trong đời sống kinh tế – xã hội của một bản vùng biên Nghệ An.
