Sản phẩm nhiều tiềm năng
Trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến sức khỏe và môi trường, nến sáp ong - một sản phẩm thủ công từ nguyên liệu tự nhiên đang dần hình thành thị trường ngách giàu tiềm năng. Không còn đơn thuần là vật dụng trang trí hay chiếu sáng, nến sáp ong được xem như một sản phẩm tiêu dùng “xanh”, tạo giá trị kinh tế từ nguồn nguyên liệu bản địa và lao động thủ công.
Theo ghi nhận, nhu cầu tiêu thụ nến sáp ong tăng mạnh vào các dịp cuối năm, đặc biệt trong mùa lễ hội và thời điểm thời tiết rét đậm. Sự kết hợp giữa xu hướng sống chậm, xông nhà bằng tinh dầu thiên nhiên và nhu cầu quà tặng thủ công đã khiến các dòng nến viên (tealight), nến cốc từ sáp ong trở thành mặt hàng hút khách. Tuy nhiên, thị trường hiện vẫn còn ít cơ sở sản xuất, quy mô hộ gia đình, dẫn đến tình trạng cung không đủ cầu vào mùa cao điểm.
Chị Tạ Trang Nhung (phường Thành Vinh) đang sản xuất nến sáp ong để đảm bảo giao hàng dịp cuối năm. Ảnh: Mai Liễu
Hơn 3 năm theo nghề làm sáp ong, chị Tạ Trang Nhung (phường Thành Vinh, tỉnh Nghệ An) cho biết, lượng đơn hàng năm nay tăng rõ rệt, đặc biệt là nến viên phục vụ xông tinh dầu.
“Do ít người làm, để kịp đơn hàng, gia đình tôi phải tăng thời gian sản xuất, làm liên tục từ sáng đến khuya. Cao điểm cuối năm là thời điểm vất vả nhất, nhưng cũng là lúc thu nhập tăng tốt nhất. Mỗi mẻ sáp được kiểm soát chặt nhiệt độ, lọc nhiều lần để bảo đảm chất lượng, không cho phép rút ngắn công đoạn nếu muốn giữ uy tín sản phẩm", chị Nhung chia sẻ.
Về mặt nguyên liệu, sáp ong là sản phẩm phụ từ nghề nuôi ong, sau mùa mật được thu gom, làm sạch và tái chế. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và suy giảm đàn ong, nguồn sáp ong nguyên chất ngày càng khan hiếm, kéo theo chi phí đầu vào tăng. Điều này khiến giá thành nến sáp ong cao hơn đáng kể so với nến paraffin công nghiệp - vốn được sản xuất từ dầu mỏ. Tuy nhiên, đổi lại là lợi thế cạnh tranh về sức khỏe, môi trường và giá trị sử dụng lâu dài.
Nguyên liệu sạch, thân thiện với môi trường là một trong những nguyên nhân khiến khách hàng ưa chuộng nến sáp ong. Ảnh: Mai Liễu
Làm nến sáp ong không đòi hỏi vốn lớn hay máy móc hiện đại. Nhiều hộ sản xuất khởi nghiệp ngay từ gian bếp gia đình, với nồi đun cách thủy, khuôn thủ công và lao động thủ công là chính.
Chi phí đầu tư ban đầu thấp nhưng nghề này đòi hỏi kỹ năng và kinh nghiệm cao, bởi sáp ong “khó tính”, dễ biến màu, nứt bề mặt nếu xử lý sai kỹ thuật. Chính yếu tố tay nghề đã tạo ra rào cản gia nhập thị trường, giúp những người làm nghề nghiêm túc giữ được chỗ đứng.
Nến sáp ong đa dạng về chủng loại sản phẩm. Ảnh: Mai Liễu
Để đa dạng sản phẩm và tăng khả năng tiếp cận khách hàng, một số cơ sở đã phát triển thêm các dòng nến bơ, kết hợp sáp ong và sáp cọ, vừa giảm giá thành vừa giữ được tiêu chí tự nhiên. Tuy nhiên, người làm nghề cho rằng, việc tối ưu chi phí không thể đánh đổi bằng cách nấu sáp trực tiếp hay pha trộn nguyên liệu kém chất lượng, bởi điều này sẽ làm mất niềm tin thị trường - yếu tố sống còn của sản phẩm thủ công.
Cũng làm nến sáp ong, chị Lê Thị Hà (phường Thành Vinh) cho biết, khó khăn lớn nhất của nghề hiện nay không chỉ nằm ở giá nguyên liệu, mà còn ở sự cạnh tranh không lành mạnh. Trên thị trường có không ít sản phẩm pha paraffin nhưng quảng cáo là nến sáp ong, khiến người tiêu dùng khó phân biệt. Người làm nến thật phải vừa sản xuất, vừa giải thích, vừa bảo vệ thương hiệu của mình.
Thành phẩm từ nến sáp ong. Ảnh: Mai Liễu
Dù được làm tỉ mỉ, tâm huyết, được khách hàng tin dùng nhưng theo chị Trà My (phường Vinh Phú, Nghệ An), sản phẩm vẫn chưa được mở rộng thị trường, giá cả không cao nên doanh thu cũng chưa lớn. Hai tháng nay, chị Trà My mới bắt đầu xây dựng các trang mạng xã hội để quảng cáo về sản phẩm, đặc biệt chị ưu tiên xây dựng kênh tiktok để có thể quay video các công đoạn làm nến sáp ong và video sử dụng sản phẩm ở nhà, spa, đền chùa.
Theo chị Trà My, giá nến sáp ong trên thị trường rất đa dạng, tùy thuộc vào loại sáp, kích thước và thiết kế. Nến tealight nhỏ có giá từ 15.000 - 25.000 đồng/hộp 10 viên; nến trụ/cây nến dao động từ 50.000 - 300.000 đồng/cây tùy thời gian cháy; nến tạo hình hoa hồng, hoa sen dao động từ 80.000 -100.000 đồng/cái.
Xây dựng hướng đi bền vững
Theo trao đổi của một số cơ sở làm nến sáp ong lớn ở tỉnh Nghệ An, hiện trên địa bàn có khoảng 20 cơ sở sản xuất, chủ yếu ở các phường cũ của thành phố Vinh. Dù chưa phải nghề mang lại lợi nhuận cao, chưa phổ biến nhưng làm nến sáp ong đang cho thấy một hướng đi riêng, đầy tiềm năng để có thu nhập ổn định, tận dụng được tài nguyên địa phương, tạo việc làm tại chỗ và đáp ứng xu hướng tiêu dùng xanh.
Qua trao đổi, các cơ sở sản xuất cũng chia sẻ về những khó khăn, hạn chế của nghề và mục tiêu đặt ra trong thời gian tới để có thể duy trì ổn định đơn hàng và từng bước mở rộng thị trường trong nước.
Cụ thể như để nến sáp ong thoát khỏi quy mô nhỏ lẻ và phát triển bền vững, các cơ sở phải chuẩn hóa quy trình sản xuất, từ khâu xử lý nguyên liệu, kiểm soát nhiệt độ, đến đóng gói, bảo quản, nhằm bảo đảm chất lượng đồng đều và ổn định cho từng sản phẩm.
Song song với đó, việc đa dạng mẫu mã, chủng loại sản phẩm được xem là hướng đi quan trọng trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng ngày càng phân hóa. Ngoài các dòng nến truyền thống phục vụ thờ cúng, xông tinh dầu, các hộ sản xuất phải thiết kế, phát triển thêm các dòng nến quà tặng, nến trang trí, nến thư giãn cao cấp, phù hợp với phân khúc khách hàng đô thị và du lịch.
Cùng với đó là xây dựng câu chuyện cho sản phẩm. Khi câu chuyện về sử dụng nguyên liệu tự nhiên, lao động thủ công và bảo vệ môi trường được kể một cách mạch lạc, toàn tâm thì sản phẩm không chỉ được người tiêu dùng thích thú lựa chọn mà còn tạo ra nét đẹp riêng.

Các mẫu nến sáp ong có hình thức đẹp, ưa nhìn. Ảnh: Mai Liễu
Chị Tạ Trang Nhung (phường Thành Vinh) cho rằng, để mở rộng thị trường cho sản phẩm mới mẻ, kén khách hàng này, rất cần sự hỗ trợ của địa phương. Đơn cử như hỗ trợ về nguồn nguyên liệu đầu vào ổn định, thông qua việc kết nối các vùng nuôi ong, xây dựng chuỗi cung ứng sáp ong ổn định; tổ chức các chương trình tập huấn kỹ thuật, chuyển giao kinh nghiệm; hỗ trợ đăng ký nhãn hiệu, truy xuất nguồn gốc, mã QR, chứng nhận chất lượng; kết nối thị trường, đưa nến sáp ong tham gia các chương trình OCOP, hội chợ thương mại, kết nối sàn thương mại điện tử để mở thêm kênh tiêu thụ, giúp sản phẩm tiếp cận thị trường rộng hơn, bền vững hơn.
Khi được tiếp sức đúng hướng, nến sáp ong không chỉ là sản phẩm thủ công phục vụ một nhóm nhỏ người tiêu dùng, mà hoàn toàn có thể trở thành mặt hàng tiêu dùng xanh đặc trưng, góp phần đa dạng hóa sinh kế, phát triển kinh tế xanh ở đô thị lẫn nông thôn, đóng góp tích cực vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh của địa phương trong giai đoạn tới.
Một cơ sở sản xuất nến sáp ong có từ hai nhân công, nếu đảm bảo đơn hàng ổn định, có thể đạt doanh thu từ 200-500 triệu đồng/năm, trừ các chi phí, bình quân thu nhập có thể đạt từ 10-15 triệu đồng/người/tháng. Với thu nhập này, có thể giúp nhiều người có cuộc sống ổn định, từng bước vươn lên làm giàu.
Nến sáp ong được dùng nhiều tại các không gian thư giãn, sang trọng và tâm linh như: spa, thẩm mỹ viện, nhà hàng, khách sạn, nhà thờ, hoặc dùng trong gia đình để trang trí, tạo mùi hương tự nhiên.

