Tóm tắt: Bài viết phân tích các điều kiện kinh tế vĩ mô để Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn 2026 - 2030 trong bối cảnh lực lượng lao động suy giảm và đóng góp của lao động vào tăng trưởng ngày càng thấp. Nghiên cứu cho thấy tăng trưởng không thể tiếp tục dựa vào lao động mà cần chuyển sang mô hình dựa trên tích lũy vốn và đổi mới công nghệ. Kinh nghiệm của Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaysia và Thái Lan cho thấy các giai đoạn tăng trưởng nhanh đều gắn với tỉ lệ đầu tư/GDP xấp xỉ hoặc vượt 40%. Trên cơ sở đó, bài viết xây dựng các kịch bản tăng trưởng 10%/năm, ước tính nhu cầu đầu tư và tăng trưởng tín dụng tương ứng từ 17,45% đến 25,3%/năm. Kết luận cho rằng trong điều kiện thể chế và mức độ bất cân xứng thông tin hiện nay, hệ thống ngân hàng tiếp tục là kênh dẫn vốn chủ đạo, trong khi thị trường vốn chỉ đóng vai trò bổ trợ, đặc biệt đối với doanh nghiệp lớn.

Từ khóa: Tăng trưởng kinh tế, đầu tư/GDP, tín dụng ngân hàng, thị trường vốn.

THE ROLE OF THE BANKING SECTOR IN THE NEW ERA

Abstract: This article examines the macroeconomic conditions required for Vietnam to achieve high growth during 2026 - 2030 in a context of slowing labor force expansion and a declining contribution of labor to growth. It shows that economic growth can no longer continue to rely on labor alone but needs to shift toward a model based on capital accumulation and technological innovation. The experiences of China, South Korea, Malaysia, and Thailand indicate that periods of rapid growth are closely associated with investment-to-GDP ratios of around or above 40%. Based on this evidence, the article develops 10% annual growth scenarios and estimates the corresponding investment needs and credit growth at between 17.45% and 25.3% per year. It concludes that under current institutional conditions and information asymmetry, the banking system will continue to be the primary channel for capital allocation, while the capital market plays only a supporting role, particularly for large enterprises.

Keywords: Economic growth, investment-to-GDP, bank credit, capital markets.

1. Vốn - yếu tố then chốt trong các giai đoạn tăng trưởng nhanh

Năm 2026 được xem là một mốc quan trọng cho giai đoạn phát triển mới của kinh tế Việt Nam. Đây là năm khởi đầu của nhiệm kỳ 2026 - 2030, đồng thời là thời điểm đất nước tiếp tục đẩy mạnh cải cách thể chế và tổ chức, vận hành bộ máy hành chính mới dựa trên nền tảng chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Những chuyển đổi này được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng quan trọng cho một mô hình phát triển hiệu quả hơn, bền vững hơn, qua đó từng bước hiện thực hóa khát vọng vươn mình của dân tộc.

Kể từ sau Đổi mới, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chủ yếu dựa vào việc mở rộng quy mô các yếu tố đầu vào, trong đó nguồn lực quan trọng nhất là lao động. Trong giai đoạn 2000 - 2011, lực lượng lao động tăng với tốc độ bình quân khoảng 2,69%/năm. Tuy nhiên, từ sau năm 2011, tốc độ tăng của lực lượng lao động suy giảm mạnh, chỉ còn khoảng 0,2%/năm trong giai đoạn 2011 - 2024. Trước khi xảy ra đại dịch Covid-19, các dự báo cho thấy lực lượng lao động của Việt Nam sẽ đạt đỉnh vào khoảng năm 2023, với quy mô xấp xỉ 56,5 triệu người, sau đó là giai đoạn ổn định và giảm nhẹ dần dần do tỉ suất sinh giảm dưới mức tái tạo (năm 2024, tỉ suất sinh của phụ nữ Việt Nam là 1,91 con/phụ nữ). Tuy nhiên, tác động của đại dịch Covid-19 đã làm gián đoạn xu hướng này khi lực lượng lao động năm 2021 sụt giảm khoảng 4,3 triệu người so với năm trước đó, và chỉ phục hồi dần trong các năm tiếp theo. Trên cơ sở xu hướng hiện nay, tác giả ước tính lực lượng lao động sẽ tiếp tục tăng nhẹ trong thập kỷ tới, đạt khoảng 55 triệu người vào năm 2032, trước khi bước vào giai đoạn suy giảm. (Hình 1)

margin: 15px auto;" />

Theo kịch bản khả quan nhất, trong giai đoạn 2025 - 2030, lực lượng lao động của Việt Nam chỉ tăng bình quân khoảng 0,61%/năm. Trong khi đó, tỉ lệ thất nghiệp duy trì ở mức thấp, khoảng 2,1 - 2,4%, cho thấy dư địa huy động thêm lao động để phục vụ tăng trưởng cao là khá hạn chế trong 5 năm tới. Đồng thời, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũng diễn ra chậm. Đến năm 2024, tỉ lệ lao động trong độ tuổi đã qua đào tạo mới đạt khoảng 31%. Với tốc độ cải thiện hiện nay, đến năm 2030 tỉ lệ này được ước tính chỉ đạt khoảng 37,8%, đồng nghĩa với việc hơn 62% lao động chưa qua đào tạo. (Hình 2)

Các nghiên cứu gần đây cho thấy đóng góp của lao động vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam ở mức thấp và có xu hướng giảm. Theo Tran Van Trung và Le Huy Doan (2025), tỉ trọng đóng góp của lao động trong tăng trưởng của Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 chỉ đạt khoảng 13,2%, và đến năm 2023 giảm xuống còn khoảng 12,81%. Những bằng chứng này cho thấy tăng trưởng của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay khó có thể tiếp tục dựa vào nguồn lao động, mà chủ yếu phải dựa vào vốn và đổi mới công nghệ. Trong đó, đổi mới công nghệ bản chất cũng là đầu tư vốn nhập khẩu công nghệ. Do đó, để đạt được tốc độ tăng trưởng cao (trên 8%/năm), Việt Nam cần phải tăng mạnh đầu tư. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội của Việt Nam không tương đồng với các nước khác, vì vậy trong nghiên cứu này tác giả sử dụng biến tổng mức tích lũy tài sản trong năm làm biến đầu tư để so sánh giữa các quốc gia.

Kinh nghiệm từ một số nền kinh tế châu Á đã trải qua các thời kỳ tăng trưởng nhanh như Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaysia, Thái Lan cho thấy các nước này đã tăng mạnh tỉ lệ đầu tư so với GDP, với tỉ lệ đầu tư/GDP đạt khoảng 40%.

Trong giai đoạn 1992 - 2007, Trung Quốc đạt mức tăng trưởng bình quân 10,5%/năm với tỉ lệ đầu tư/GDP thường xuyên trên 35%, và vượt 40% kể từ sau năm 2003. Hàn Quốc trong giai đoạn 1982 - 1996 cũng đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 9,77%/năm, đồng thời liên tục thúc đẩy tỉ lệ đầu tư/GDP tăng dần từ 32,8% lên đến 40% vào năm 1996. Xu hướng tương tự cũng được quan sát tại Malaysia trong gia đoạn 1987 - 1997 và tại Thái Lan giai đoạn 1985 - 1995, với tốc độ tăng trưởng bình quân lần lượt đạt 9,27% và 9,25%/năm; trong cả hai trường hợp đều cho thấy, Malaysia và Thái Lan đã đẩy mạnh tỉ lệ đầu tư/GDP và vượt 40% vào nửa cuối giai đoạn tăng trưởng cao (Hình 3). Tính trung bình, tỉ trọng đầu tư so với GDP trong các giai đoạn tăng trưởng nhanh của bốn nền kinh tế này dao động trong khoảng 38,07% (Malaysia) đến 38,46% (Trung Quốc), cho thấy vai trò then chốt của tích lũy vốn đối với tăng trưởng cao và bền vững.

2. Nhu cầu vốn của Việt Nam trong giai đoạn 2026 - 2030

Trong giai đoạn 2012 - 2024, kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 6,11%/năm, với tỉ lệ vốn đầu tư so với GDP xấp xỉ 30 - 32%. Giai đoạn 2013 - 2019, Việt Nam từng bước cải thiện tốc độ tăng trưởng thông qua việc gia tăng dần tỉ lệ đầu tư/GDP. Mô hình này khá tương đồng với mô hình của Thái Lan và Malaysia trong giai đoạn 1980 - 1990, khi đó tỉ lệ vốn/GDP ở các nước này chỉ khoảng 29 - 33% và tốc độ tăng trưởng dao động trong khoảng 5 - 7%. Khi bước vào giai đoạn tăng tốc và duy trì tốc độ tăng trưởng cao trên 8% trong khoảng một thập kỷ, các nền kinh tế này đều gia tăng mạnh đầu tư, đưa tỉ lệ đầu tư/GDP lên trên 40%. Điều này hàm ý rằng để nâng tốc độ tăng trưởng của Việt Nam lên mức cao hơn trong giai đoạn 2026 - 2030, việc duy trì và gia tăng đáng kể tỉ lệ đầu tư/GDP là điều kiện cần, đặc biệt trong bối cảnh đóng góp của lao động suy giảm và dư địa mở rộng các yếu tố đầu vào khác ngày càng hạn chế.

2.1. Kịch bản tăng trưởng 10%/năm trong giai đoạn 2026 - 2030

Để đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 10%/năm trong giai đoạn 2026 - 2030, GDP danh nghĩa cần tăng tối thiểu khoảng 13%/năm, tương ứng với kịch bản tăng trưởng cao trong bối cảnh lạm phát được kiểm soát ở mức thấp khoảng 3 - 4%. Theo đó, đến năm 2030, quy mô GDP theo giá hiện hành ước tính đạt khoảng 23,7 triệu tỉ đồng. Để đạt được quy mô này, Việt Nam cần gia tăng đáng kể quy mô đầu tư, đồng thời cải thiện hiệu quả sử dụng vốn. Trên cơ sở đó, bài viết xây dựng ba kịch bản về tỉ lệ đầu tư/GDP như sau:

(i) Kịch bản cơ sở: Tỉ lệ đầu tư/GDP đạt khoảng 38%, tương đương với mức quan sát được tại các nền kinh tế châu Á trong các giai đoạn tăng trưởng cao kéo dài.

(ii) Kịch bản cao: Hiệu quả đầu tư của Việt Nam thấp hơn so với một số nền kinh tế châu Á đi trước, nên tỉ lệ đầu tư/GDP cần đạt khoảng 40%.

(iii) Kịch bản thấp: Giả định Việt Nam cải thiện vượt bậc về hiệu quả đầu tư, cho phép duy trì tỉ lệ đầu tư/GDP ở mức hiện nay là 32%.

Với ba kịch bản trên, tổng vốn đầu tư toàn xã hội được ước tính tăng từ khoảng 3,52 triệu tỉ đồng năm 2024 lên đến 7,6 triệu tỉ đồng vào năm 2030 theo kịch bản thấp, 9,5 triệu tỉ đồng theo kịch bản cao và khoảng 9,0 triệu tỉ đồng theo kịch bản cơ sở. (Hình 4)

2.2. Vốn dựa vào tín dụng hay thị trường vốn

Thị trường tài chính thường được xem là “bộ não” của nền kinh tế thị trường, phản ánh rủi ro, thách thức, cơ hội, kỳ vọng và mức độ hiệu quả trong phân bổ nguồn lực. Những trục trặc trong vận hành của thị trường tài chính có thể nhanh chóng lan rộng và ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ hoạt động kinh tế. Do đó, phát triển thị trường tài chính có ý nghĩa then chốt đối với tăng trưởng kinh tế nói chung và đối với sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân nói riêng.

Theo Stiglitz (1995), thị trường chứng khoán về bản chất chủ yếu thực hiện chức năng phân bổ và trao đổi rủi ro giữa các nhà đầu tư; mặc dù có tác động đến khả năng huy động vốn của doanh nghiệp, nhưng chủ yếu vẫn là kênh đánh cược rủi ro hơn là kênh tài trợ chủ đạo cho các dự án đầu tư mới hoặc mở rộng quy mô sản xuất. Việc truyền thông tập trung nhiều vào thị trường cổ phiếu và thị trường trái phiếu dễ tạo ra cảm nhận rằng đây là các định chế trung tâm của hệ thống tài chính, trong khi trên thực tế, tại hầu hết các nền kinh tế, chỉ một tỉ lệ nhỏ tổng đầu tư được tài trợ trực tiếp thông qua phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu.

Stiglitz (1995) cũng chỉ ra rằng chi phí giao dịch trên thị trường vốn tương đối cao (chiếm 25% tổng các khoản đầu tư mới1) làm hạn chế vai trò của kênh này như một kênh huy động vốn hiệu quả. Trên thực tế, tại Mỹ - nền kinh tế thường được xem là dựa nhiều vào thị trường vốn hơn là tín dụng ngân hàng - thì trong giai đoạn 2000 - 2024, mức gia tăng tín dụng hằng năm trung bình vẫn cao hơn khoảng 2,1 lần so với lượng vốn huy động thông qua phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) (Hình 5).

Những bằng chứng này cho thấy, ngay cả các nền kinh tế có thị trường vốn phát triển, hệ thống tín dụng ngân hàng vẫn giữ vai trò trung tâm trong việc tài trợ cho đầu tư và tăng trưởng. Do đó, trong bối cảnh Việt Nam cần gia tăng mạnh đầu tư để đạt mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới, thì tín dụng ngân hàng vẫn là kênh chủ đạo, đóng vai trò quyết định.

2.3. Tại sao tăng trưởng dựa vào ngân hàng lại phù hợp với các nước đang phát triển Đông Á

Yếu tố cốt lõi trong kinh doanh tài chính là quản trị rủi ro. Các ngân hàng thương mại nhờ lợi thế chuyên môn hóa trong thu thập, xử lý thông tin và quản trị rủi ro có khả năng giảm thiểu các vấn đề lựa chọn ngược và rủi ro đạo đức trong quan hệ tín dụng. Trong khi đó, trên thị trường vốn, nhà đầu tư phải tự sàng lọc những doanh nghiệp ít rủi ro và hoạt động có hiệu quả. Điều này đòi hỏi khả năng thu thập thông tin, phân tích thông tin năng lực phân tích tài chính, dự báo và phân tán rủi ro,... là những yêu cầu vượt quá khả năng của một nhà đầu tư cá nhân và đôi khi vượt quá khả năng của ngay cả một nhà đầu tư chuyên nghiệp.

Khi khuôn khổ pháp lý và sự phát triển của thị trường vốn chưa hoàn thiện, vấn đề bất cân xứng thông tin càng trở nên nghiêm trọng, làm gia tăng mức độ rủi ro của thị trường vốn. Trong bối cảnh đa số nhà đầu tư có mức độ ưa rủi ro thấp, mức độ rủi ro cao sẽ làm hạn chế khả năng phát triển của thị trường vốn, đồng thời tạo điều kiện để hệ thống ngân hàng giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng vốn.

Chakraborty và Ray (2021) thông qua phân tích lý thuyết về các hệ thống tài chính dựa vào ngân hàng và dựa vào thị trường vốn trong bối cảnh tăng trưởng và phát triển kinh tế cho thấy rằng, yếu tố quan trọng đối với tăng trưởng không phải là loại hình hệ thống tài chính, mà là mức độ hiệu quả của các thể chế tài chính và pháp lý của quốc gia. Tuy nhiên, xét từ góc độ quá trình chuyển đổi một nền kinh tế truyền thống sang một nền kinh tế công nghiệp hiện đại, hệ thống tài chính dựa vào ngân hàng được cho là hoạt động hiệu quả hơn so với hệ thống tài chính dựa vào thị trường vốn.

Một trong những nguyên nhân quan trọng khiến ngân hàng và các trung gian tài chính có xu hướng vượt trội hơn so với thị trường chứng khoán tại các nền kinh tế đang phát triển là chi phí xử lý thông tin. Với lợi thế về kinh tế theo quy mô và sự chuyên môn hóa trong hoạt động thu thập và xử lý thông tin, các trung gian tài chính có khả năng giảm đáng kể chi phí liên quan đến việc thu thập và xử lý thông tin về doanh nghiệp và đội ngũ quản lý, từ đó làm giảm chi phí đại diện thông qua việc đảm nhận vai trò “người giám sát được ủy quyền” (Boyd và Prescott, 1986; Diamond, 1984).

Boot và Thakor (1997) cho rằng cho vay ngân hàng là kênh quan trọng đối với các doanh nghiệp có mức độ rủi ro đạo đức cao (thông tin không minh bạch, không đầy đủ và hệ thống pháp lý chưa đủ phát triển để ràng buộc trách nhiệm công bố thông tin…). Ngược lại, các doanh nghiệp có hệ thống thông tin minh bạch và đầy đủ hơn, cùng với cơ chế quản trị chuẩn mực và dễ theo dõi, thường có xu hướng huy động vốn từ thị trường vốn hơn so với từ hệ thống ngân hàng.

Thêm vào đó, tại các nền kinh tế đang phát triển, khi phần lớn doanh nghiệp còn có quy mô nhỏ và tiềm lực tài chính hạn chế, họ có động cơ mạnh hơn để trục lợi từ tình trạng bất cân xứng thông tin và do đó có xu hướng tham gia thị trường vốn hơn là thị trường tín dụng ngân hàng. Việc nhiều doanh nghiệp như vậy cùng tham gia thị trường vốn làm gia tăng mức độ rủi ro đối với nhà đầu tư, đồng thời khiến các doanh nghiệp chất lượng tốt cũng gặp khó khăn trong việc huy động vốn, do chi phí để nhà đầu tư phân biệt giữa doanh nghiệp tốt và doanh nghiệp kém là quá lớn. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến thị trường vốn ở các nước đang phát triển gặp nhiều khó khăn trong quá trình phát triển, và nguồn vốn của nền kinh tế chủ yếu được huy động thông qua thị trường tín dụng ngân hàng. Như Stiglitz đã nhận xét, trong bối cảnh đó, thị trường vốn có xu hướng vận hành mang tính đầu cơ cao.

Mô hình phát triển dựa vào ngân hàng được quan sát rõ rệt tại Hàn Quốc, Trung Quốc và Việt Nam (Hình 6). Các lập luận lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm đều cho thấy rằng, để đạt được tăng trưởng kinh tế nhanh trong thời gian tới, nền kinh tế vẫn cần dựa chủ yếu vào hệ thống ngân hàng, trong khi thị trường vốn đóng vai trò bổ trợ, tập trung cung ứng vốn cho các doanh nghiệp lớn có mức độ minh bạch cao và triển vọng phát triển tương đối dễ đánh giá.

2.4. Tín dụng cần thiết cho các kịch bản tăng trưởng 10%

Dư nợ tín dụng là một biến điểm (stock), còn đầu tư là một biến dạng lưu lượng (flow). Do đó, để xác định mối quan hệ giữa tín dụng và đầu tư, bài nghiên cứu sử dụng giá trị trung bình cộng của dư nợ tín dụng trong hai năm liên tiếp để đại diện cho mức độ tín dụng được sử dụng trong nền kinh tế trong năm sau, cụ thể: Tt = (Crt + Crt-1)/2

Sử dụng hàm hồi quy sai phân bậc 1 của log biến tín dụng Tt và log biến đầu tư It (sau khi kiểm tra tính dừng và đồng liên kết) cho thấy mô hình giải thích tốt ở mức 85%. Dựa vào mô hình này cùng với các ước tính về nhu cầu đầu tư đã trình bày ở trên, bài nghiên cứu xây dựng kịch bản về nhu cầu tín dụng cho các năm tiếp theo tương ứng với từng kịch bản tăng trưởng.

Kết quả ước lượng cho thấy tốc độ tăng tín dụng cần thiết để đạt tăng trưởng GDP thực bình quân 10%/năm trong giai đoạn 2026 - 2030 phụ thuộc đáng kể vào hiệu quả sử dụng vốn.

Thứ nhất, trong kịch bản hiệu quả sử dụng vốn cao (tỉ lệ đầu tư/GDP duy trì ở mức khoảng 32%), tốc độ tăng tín dụng bình quân cần đạt khoảng 17,45%/năm.

Thứ hai, trong kịch bản cơ sở - giả định hiệu quả sử dụng vốn của Việt Nam tương đương với các nền kinh tế châu Á trong các giai đoạn tăng trưởng cao (tỉ lệ đầu tư/GDP khoảng 38%) - nhu cầu tăng tín dụng bình quân giai đoạn 2026 - 2030 ước tính vào khoảng 23,45%/năm.

Thứ ba, trong kịch bản hiệu quả sử dụng vốn thấp (tỉ lệ đầu tư/GDP đạt khoảng 40%), tốc độ tăng tín dụng bình quân cần đạt khoảng 25,3%/năm. (Hình 7 và Bảng 1)

3. Kết luận

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng GDP tối thiểu 10% trong 5 năm tới (2026 - 2030), hệ thống ngân hàng đóng vai trò là "điểm tựa" chiến lược không thể thay thế. Trong bối cảnh Việt Nam, ngân hàng không chỉ đơn thuần là kênh dẫn vốn mà còn là định chế chuyên biệt trong việc xử lý bất đối xứng thông tin và quản trị rủi ro hệ thống. Sự cộng hưởng giữa kinh nghiệm nghiệp vụ truyền thống và các đột phá công nghệ như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn… tiếp tục nâng cao năng lực thẩm định, cho phép các ngân hàng mở rộng biên độ tín dụng hiệu quả hơn bao giờ hết. Ngược lại, kỳ vọng thị trường vốn có thể nhanh chóng thay thế vai trò của hệ thống ngân hàng trong tài trợ tăng trưởng là chưa phù hợp với điều kiện hiện nay. Một thị trường vốn vận hành hiệu quả đòi hỏi khuôn khổ pháp lý đầy đủ về thực thi hợp đồng, chuẩn mực công bố thông tin và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư, những yếu tố mà Việt Nam vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Trong bối cảnh này, việc mở rộng nhanh thị trường vốn mà không đi kèm với củng cố thể chế có thể làm gia tăng rủi ro biến động tài chính và tác động bất lợi đến ổn định vĩ mô.

Dự báo với kịch bản tăng trưởng cao và lạm phát mục tiêu đạt khoảng 3 - 4%/năm, nhu cầu tín dụng bình quân trong giai đoạn 2026 - 2030 được ước tính vào khoảng 23,45%/năm.

Theo đó, đến năm 2030, dư nợ tín dụng có thể đạt mức xấp xỉ 2,8 lần so với năm 2025, kéo theo yêu cầu gia tăng đáng kể vốn tự có của hệ thống ngân hàng (ước tính khoảng 2,5 lần) để đáp ứng các chuẩn mực an toàn vốn. Điều này vừa mở ra dư địa phát triển cho khu vực ngân hàng, vừa đặt ra yêu cầu cấp thiết về tái cấu trúc và tăng cường năng lực tài chính nhằm bảo đảm an toàn hệ thống, hỗ trợ tăng trưởng bền vững, góp phần phục vụ mục tiêu phát triển thịnh vượng của quốc gia.

1 Số liệu trong bài báo của Stiglitz thuộc giai đoạn 1990s trở về trước (Stiglitz, "Role of the State in Financial Markets", Proceedings of World Bank annual conference on Development Economics 1993).

TS. Nguyễn Tú Anh
Giám đốc Nghiên cứu Chính sách, Trường Đại học VinUni