Tín dụng “tiếp sức” cho các động lực tăng trưởng tại tỉnh Đồng Tháp và tỉnh Tây Ninh
(Banker.vn) Những ngày đầu năm 2026, trong không khí thi đua sôi nổi chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, bức tranh kinh tế - xã hội tại tỉnh Đồng Tháp và tỉnh Tây Ninh đang cho thấy những tín hiệu khởi sắc đầy kỳ vọng. Đứng sau sự ổn định và phát triển đó là dòng vốn tín dụng không ngừng chảy vào các mạch máu kinh tế, trở thành "cú hích" quan trọng thúc đẩy các động lực tăng trưởng địa phương.
Dòng vốn tín dụng lan tỏa mạnh mẽ vào nền kinh tế địa phương
Bước sang năm 2026, trong bối cảnh kinh tế cả nước bước vào giai đoạn tăng tốc thực hiện các mục tiêu phát triển mới, hoạt động ngân hàng tiếp tục giữ vai trò then chốt trong việc dẫn dắt dòng vốn, hỗ trợ sản xuất – kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương.
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 13, gồm hai tỉnh Đồng Tháp và tỉnh Tây Ninh, tín dụng ngân hàng không chỉ đóng vai trò “huyết mạch” của nền kinh tế mà còn là công cụ chính sách quan trọng để kích hoạt các động lực tăng trưởng truyền thống và mới.
Theo Báo cáo từ Ngân hàng Nhà nước Khu vực 13, đến cuối năm 2025, tổng dư nợ tín dụng toàn khu vực đạt 525.098 tỷ đồng, tăng 10,9% so với cuối năm 2024; ước đến hết tháng 1/2026 đạt 530.022 tỷ đồng, tăng 0,94% so với cuối năm 2025. Quy mô tín dụng tiếp tục mở rộng cho thấy vai trò chủ lực của hệ thống ngân hàng trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế hai địa phương.
Đáng chú ý, cơ cấu tín dụng phản ánh khá rõ định hướng ưu tiên phát triển kinh tế địa phương: tập trung vào nông nghiệp – nông thôn, công nghiệp – xây dựng, thương mại – dịch vụ và các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước.
margin: 15px auto;" />Hiệu quả tín dụng đối với các động lực tăng trưởng tại Đồng Tháp
Nông nghiệp tiếp tục là trụ cột tăng trưởng: Đồng Tháp là địa phương có lợi thế rõ nét về nông nghiệp, đặc biệt là lúa gạo, thủy sản và cây ăn trái. Điều này được phản ánh trực tiếp trong cơ cấu tín dụng. Đến cuối năm 2025, dư nợ tín dụng nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn Đồng Tháp tăng 12,5% so với cuối năm 2024, đóng góp quan trọng vào mức tăng trưởng chung của toàn khu vực.
Tín dụng không chỉ phục vụ sản xuất sơ cấp mà còn lan tỏa sang các khâu thu mua, chế biến, bảo quản và tiêu thụ. Riêng dư nợ cho vay ngành lúa gạo toàn khu vực đạt 70.234 tỷ đồng, tăng 29,5% so với năm trước; trong đó Đồng Tháp chiếm tỷ lệ cao nhờ vai trò là trung tâm sản xuất lúa gạo và thủy sản của vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Việc triển khai Chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ lúa gạo chất lượng cao, phát thải thấp đã bước đầu tạo ra mô hình tín dụng gắn với chuỗi giá trị, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và giảm rủi ro tín dụng. Lãi suất cho vay phổ biến từ 4–5,5%/năm được đánh giá là khá phù hợp với khả năng hấp thụ vốn của nông dân và hợp tác xã.
Thương mại – dịch vụ giữ vai trò “bệ đỡ” tăng trưởng: Cùng với nông nghiệp, tín dụng cho thương mại – dịch vụ tại Đồng Tháp tiếp tục tăng trưởng ổn định. Dư nợ thương mại – dịch vụ toàn khu vực chiếm tới 62,2% tổng dư nợ, phản ánh nhu cầu vốn lớn cho lưu thông hàng hóa, logistics, du lịch và tiêu dùng nội địa. Đối với Đồng Tháp, tín dụng thương mại – dịch vụ tăng 5,7% so với cuối năm 2024, góp phần duy trì sức cầu nội địa và hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ trong bối cảnh chi phí đầu vào còn nhiều áp lực.
Chất lượng tín dụng thách thức cần kiểm soát: Chất lượng tín dụng tại Đồng Tháp vẫn đặt ra một số thách thức. Tỷ lệ nợ xấu đến cuối tháng 11/2025 ở mức 2,73%, cao hơn mức bình quân toàn khu vực (2,32%). Điều này phản ánh rủi ro nhất định trong cho vay nông nghiệp, nhất là trước tác động của biến đổi khí hậu, biến động giá nông sản và năng lực quản trị tài chính còn hạn chế của một bộ phận khách hàng.
Tây Ninh: tín dụng thúc đẩy công nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Công nghiệp – xây dựng là động lực tăng trưởng nổi bật: Khác với Đồng Tháp, tỉnh Tây Ninh nổi lên là địa phương có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn, với mức tăng 13,41% trong năm 2025 – cao gần gấp rưỡi Đồng Tháp. Dòng vốn tín dụng tập trung mạnh vào công nghiệp – xây dựng và thương mại – dịch vụ, phù hợp với định hướng phát triển công nghiệp, khu công nghiệp và hạ tầng giao thông của tỉnh.
Dư nợ công nghiệp – xây dựng tại Tây Ninh tăng 9,2% so với cuối năm 2024; đặc biệt, tín dụng công nghiệp hỗ trợ tăng gấp 11,7 lần so với năm trước, cho thấy xu hướng dịch chuyển tích cực của dòng vốn vào các ngành có giá trị gia tăng cao.
Tín dụng xuất khẩu và doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng trưởng mạnh: Một điểm sáng khác là tín dụng xuất khẩu tại Tây Ninh tăng hơn 200% so với cuối năm 2024, phản ánh sự mở rộng hoạt động xuất khẩu và khả năng tận dụng các hiệp định thương mại tự do của doanh nghiệp địa phương. Tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng ghi nhận mức tăng 20,1%, cho thấy vai trò quan trọng của hệ thống ngân hàng trong việc hỗ trợ khu vực doanh nghiệp này – vốn được xem là “xương sống” của nền kinh tế địa phương.
Dòng chảy tín dụng ngân hàng tại Đồng Tháp và Tây Ninh đã bám sát định hướng phát triển kinh tế địa phương, góp phần kích hoạt các động lực tăng trưởng truyền thống như đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu, đồng thời bước đầu hỗ trợ các động lực mới như công nghiệp hỗ trợ, tín dụng xanh và liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp.
TS. Phạm Minh Tú, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Khu vực 13 chia sẻ, nhiệm vụ hoạt động ngân hàng Khu vực 13 năm 2026 là khuyến nghị chính sách tín dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương gồm:
Đối với tỉnh Đồng Tháp phát huy vai trò trụ cột của nông nghiệp – nông thôn, nâng cao chất lượng tăng trưởng thông qua tín dụng gắn với chuỗi giá trị, nông nghiệp xanh và kinh tế tuần hoàn.
Thứ nhất, ưu tiên tín dụng cho các ngành hàng nông nghiệp chủ lực theo chuỗi giá trị: Tín dụng ngân hàng cần tiếp tục tập trung vào các ngành hàng thế mạnh của Đồng Tháp như lúa gạo, thủy sản (đặc biệt là cá tra), cây ăn trái (xoài, sầu riêng), hoa kiểng và sen. Trọng tâm không chỉ là khâu sản xuất mà mở rộng sang thu mua, chế biến, bảo quản, logistics và xuất khẩu, qua đó nâng cao giá trị gia tăng và khả năng trả nợ của khách hàng vay vốn.
Thứ hai, nhân rộng mô hình tín dụng liên kết và tín dụng nông nghiệp phát thải thấp: Trên cơ sở kết quả bước đầu của Chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ lúa gạo chất lượng cao, phát thải thấp, cần mở rộng sang các ngành hàng khác như thủy sản và trái cây. Ngân hàng đóng vai trò “tài trợ chuỗi”, giảm rủi ro tín dụng nhờ hợp đồng bao tiêu và dòng tiền minh bạch.
Thứ ba, đẩy mạnh tín dụng nông nghiệp công nghệ cao và tín dụng xanh: Khuyến khích các tổ chức tín dụng trên địa bàn dành hạn mức riêng cho mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tiết kiệm nước, thích ứng biến đổi khí hậu; từng bước gắn tín dụng với tiêu chuẩn môi trường, truy xuất nguồn gốc và chứng nhận xanh để nâng cao khả năng tiếp cận thị trường xuất khẩu.
Thứ tư, kiểm soát nợ xấu và nâng cao năng lực tài chính của khách hàng nông thôn: Song song với mở rộng tín dụng, cần tăng cường tư vấn tài chính, quản trị dòng tiền cho hợp tác xã, hộ sản xuất và doanh nghiệp nông nghiệp; phối hợp với chính quyền địa phương, tổ chức hội – đoàn thể để giảm thiểu rủi ro nợ xấu, nhất là trong bối cảnh biến động giá nông sản và thiên tai.
Đối với địa bàn tỉnh Tây Ninh: Dùng tín dụng ngân hàng làm đòn bẩy thúc đẩy công nghiệp hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp – dịch vụ, gắn với kiểm soát rủi ro và phát triển bền vững.
Một là, ưu tiên tín dụng cho công nghiệp chế biến, công nghiệp hỗ trợ và khu công nghiệp: Ngân hàng cần tập trung vốn cho các dự án công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ và các doanh nghiệp trong khu – cụm công nghiệp, nhất là những dự án có hàm lượng công nghệ cao, khả năng tham gia chuỗi cung ứng trong và ngoài nước.
Hai là, thúc đẩy tín dụng xuất khẩu và doanh nghiệp nhỏ và vừa: Tận dụng đà tăng trưởng mạnh của tín dụng xuất khẩu, các tổ chức tín dụng cần phát triển các sản phẩm tài trợ thương mại, bảo lãnh, bao thanh toán và tín dụng ngoại tệ phù hợp, hỗ trợ doanh nghiệp Tây Ninh mở rộng thị trường, tận dụng các hiệp định thương mại tự do (FTA).
Ba là, kiểm soát chặt chẽ tín dụng bất động sản và các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro: Trong bối cảnh dư nợ bất động sản tăng nhanh, chính sách tín dụng cần hướng tới chọn lọc dự án, ưu tiên bất động sản phục vụ sản xuất – kinh doanh, nhà ở xã hội, nhà ở công nhân; hạn chế tín dụng mang tính đầu cơ để giảm nguy cơ nợ xấu và rủi ro hệ thống.
Bốn là, mở rộng tín dụng xanh và tín dụng cho hạ tầng liên kết vùng: Khuyến khích ngân hàng tăng tỷ trọng cho vay các dự án năng lượng tái tạo, sản xuất sạch hơn, kinh tế tuần hoàn và hạ tầng giao thông kết nối liên vùng, qua đó tạo nền tảng tăng trưởng dài hạn và bền vững cho kinh tế tỉnh.
Tín dụng ngân hàng đã và đang đóng vai trò đòn bẩy quan trọng thúc đẩy các động lực tăng trưởng kinh tế tại Đồng Tháp và Tây Ninh. Trong giai đoạn 2026 - 2030, việc điều hành tín dụng theo hướng “đúng trọng tâm – nâng chất lượng – kiểm soát rủi ro” sẽ là chìa khóa để hai địa phương này khai thác hiệu quả tiềm năng, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.
ThS. Trần Trọng Triết

