(Banker.vn) Giá vàng SJC tiếp tục tăng mạnh lên 154,2 triệu đồng/lượng, trong khi bạc và đồng đồng loạt đi lên
Ghi nhận đầu giờ sáng, giá vàng miếng SJC tại Tập đoàn DOJI ở cả Hà Nội và TP.HCM giao dịch quanh mức 152,2 – 154,2 triệu đồng/lượng, tăng mạnh 800.000 đồng/lượng mỗi chiều so với cùng thời điểm hôm qua. Mức chênh lệch mua – bán được duy trì 2 triệu đồng/lượng.

Tại Bảo Tín Minh Châu, giá vàng SJC tăng tương ứng 800.000 đồng/lượng, lên 152,7 – 154,2 triệu đồng/lượng. Chênh lệch hai chiều mua – bán của đơn vị này ở mức 1,5 triệu đồng/lượng, thấp hơn so với nhiều doanh nghiệp khác.
Phú Quý niêm yết vàng miếng SJC ở mức 151,2 – 154,2 triệu đồng/lượng, tăng 300.000 đồng/lượng ở chiều mua và tới 800.000 đồng/lượng ở chiều bán. Chênh lệch giá giữa hai chiều giãn lên mức 3 triệu đồng/lượng – mức khá cao so với thông thường.
Ở nhóm vàng nhẫn, giá cũng đồng loạt tăng. Nhẫn tròn trơn Vàng Rồng Thăng Long tại Bảo Tín Minh Châu giao dịch ở mức 150,3 – 153,3 triệu đồng/lượng, tăng 300.000 đồng/lượng mỗi chiều. Nhẫn Doji Hưng Thịnh Vượng 9999 được niêm yết 149,8 – 152,8 triệu đồng/lượng, tăng mạnh 400.000 đồng/lượng.
Tại Phú Quý, vàng nhẫn 999,9 giao dịch 150 – 153 triệu đồng/lượng, tăng 300.000 đồng/lượng ở cả mua và bán. Nhìn chung, mức tăng từ 300.000 đến 400.000 đồng/lượng ở dòng vàng nhẫn phản ánh độ nhạy của phân khúc này trước biến động quốc tế.
Trên thị trường thế giới, giá vàng giao ngay tại châu Á lúc 7h45 sáng 29/11 đứng ở 4.216 USD/ounce, tăng mạnh 53 USD/ounce so với cùng thời điểm hôm qua. Theo Kitco News, sự đứt gãy chuỗi cung ứng và kỳ vọng Fed giảm lãi suất đang tạo nên đà tăng cho nhiều kim loại quý, trong đó bạc đóng vai trò dẫn dắt khi chạm mức cao nhất trong hai tuần.
Khảo sát tại các điểm giao dịch bạc ở Hà Nội cho thấy giá bạc trong nước tiếp tục tăng, niêm yết quanh 1.754.000 – 1.784.000 đồng/lượng. Tại TP.HCM, mức giá tương tự, dao động từ 1.756.000 đến 1.790.000 đồng/lượng.
Giá bạc thế giới sáng 29/11 đạt 53,94 USD/ounce, tăng 1,12 USD so với phiên trước. Khi quy đổi, giá bạc thế giới tương đương khoảng 1,399.000 – 1.404.000 đồng/ounce, tiếp tục thấp hơn đáng kể so với giá trong nước.
Theo chuyên gia kim loại quý James Hyerczyk (FX Empire), tâm lý kỳ vọng Fed sẽ giảm lãi suất đang được củng cố bởi các dữ liệu việc làm của Mỹ gần đây cho thấy dấu hiệu suy yếu. Tốc độ tuyển dụng chậm lại, cùng số đơn xin trợ cấp thất nghiệp tăng vượt dự báo, đã giúp các tài sản phòng hộ như bạc hút dòng vốn mạnh hơn.
Ông Hyerczyk đánh giá đây là “điều kiện lý tưởng” cho bạc nhờ đặc thù vừa là tài sản đầu tư, vừa là kim loại công nghiệp.
Trên sàn Thượng Hải (SHFE), hợp đồng đồng được giao dịch nhiều nhất tăng 0,41% lên 87.430 Nhân dân tệ/tấn, kết thúc tuần tăng 1,41%. Trong khi đó, giá đồng kỳ hạn ba tháng trên sàn London (LME) tăng 0,50% lên 10.994 USD/tấn, hướng đến mức tăng tuần 2,01%.
Dù vậy, hợp đồng LME liên tục gặp ngưỡng cản 11.000 USD/tấn, cho thấy thị trường vẫn thiếu các yếu tố thúc đẩy rõ ràng để bứt phá. Doanh số bán lẻ Mỹ yếu và tâm lý tiêu dùng mờ nhạt đang củng cố kỳ vọng Fed giảm lãi suất, đồng thời gây áp lực lên USD.
USD suy yếu trong tuần giúp giá hàng hóa tăng, nhưng đã có phiên phục hồi nhẹ vào ngày thứ Sáu. Ở chiều ngược lại, Trung Quốc thông báo xem xét dừng kế hoạch mở rộng công suất luyện đồng thêm 2 triệu tấn, song giới phân tích đánh giá động thái này mang tính biểu tượng nhiều hơn tác động thực tế.
Phú Quý
| Ngân hàng | 1T | 6T | 12T |
|---|---|---|---|
| Ngân hàng An Bình | 3 | 5.2 | 5.3 |
| Ngân hàng Á Châu | 2.3 | 3.5 | 4.5 |
| Agribank | 2.1 | 3.5 | 4.7 |
| Ngân hàng Bắc Á | 4.4 | 5.8 | 6.1 |
| Ngân hàng Bảo Việt | 3.4 | 4.8 | 5.25 |
| Ngoại tệ | Mua | Bán |
|---|---|---|
| USD | 26.132 | 26.412 |
| EUR | 29.733,48 | 31.300,93 |
| GBP | 33.948,46 | 35.389,44 |
| JPY | 162,8 | 173,14 |
| CNY | 3.631,32 | 3.785,46 |
| AUD | 16.762,33 | 17.473,82 |
| SGD | 19.774,98 | 20.655,63 |
| KRW | 15,49 | 18,68 |
| CAD | 18.302,51 | 19.079,38 |
| CHF | 31.902,68 | 33.256,83 |
| Hàng hoá | Giá | % |
|---|---|---|
| Vàng | 4,256.40 | +1.45% |
| Bạc | 56.38 | +6.06% |
| Dầu WTI | 58.48 | -0.88% |
| Dầu Brent | 62.32 | -0.87% |
| Khí thiên nhiên | 4.86 | +5.03% |
| Đồng | 5.28 | +2.13% |
| Cà phê Hoa Kỳ loại C | 378.95 | -0.20% |
| Cà phê London | 4,572.00 | +4.17% |
| Than cốc luyện kim Trung Quốc | 1,633.00 | 0.00% |
| Xăng RBOB | 1.82 | -1.56% |