- Công nghiệp quốc phòng Việt Nam: Tự chủ tạo sức mạnh quốc gia
- Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng và Báo Quân đội Nhân dân trao 800 suất quà Tết tại Nghệ An
- Phát triển công nghiệp quốc phòng tự lực, hiện đại, làm chủ công nghệ
Đẩy mạnh giao thương xuất nhập khẩu công nghiệp quốc phòng
Với tầm nhìn chiến lược và yêu cầu phát triển Quân đội trong tình hình mới, thời gian qua, Tổng cục CNQP đã tạo bước đột phá trong xây dựng thể chế, pháp chế trong nước, cũng như tạo dựng hành lang pháp lý phù hợp, thuận lợi trong hợp tác quốc tế về CNQP.
Nổi bật là trong năm 2025, Tổng cục đã hoàn thành xây dựng quy định về hợp tác quốc tế, liên doanh liên kết, thương mại quân sự trong Luật này; xây dựng quy định về xuất khẩu sản phẩm CNQP, an ninh trong Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật CNQP, an ninh và động viên công nghiệp; xây dựng và trình cấp có thẩm quyền ban hành danh mục sản phẩm, dịch vụ xuất, nhập khẩu phục vụ CNQP, công nghiệp an ninh.
Đồng thời, Tổng cục tích cực tham mưu xây dựng, ký kết và triển khai các thỏa thuận hợp tác với nước ngoài, tạo hành lang pháp lý để mở đường, dẫn hướng các hoạt động hợp tác quốc tế, như: Ý định thư về tăng cường hợp tác CNQP với Ấn Độ, bản ghi nhớ về hợp tác CNQP với Thổ Nhĩ Kỳ. Tổng cục đang tiếp tục nghiên cứu, xây dựng bản ghi nhớ hợp tác về CNQP với nhiều đối tác khác. Việc hoàn thiện các văn bản pháp lý về CNQP tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp CNQP trong hợp tác, tiếp nhận công nghệ hiện đại, đẩy mạnh giao thương xuất, nhập khẩu.
Những chủ trương, định hướng chiến lược đã được các doanh nghiệp thuộc Tổng cục CNQP hiện thực hóa trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Các doanh nghiệp đã có bước phát triển mạnh mẽ, không những làm chủ công nghệ sản xuất, sửa chữa, cải tiến, hiện đại hóa nhiều loại vũ khí, trang bị kỹ thuật chiến lược, thế hệ mới, công nghệ cao, mang thương hiệu Việt Nam mà còn sản xuất nhiều mặt hàng kinh tế chất lượng, có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuất khẩu; nhiều doanh nghiệp xây dựng được thương hiệu mạnh, bảo đảm việc làm, thu nhập cho người lao động.
Hiện nay, một số doanh nghiệp đã tự tin “đem chuông đi đánh xứ người”, với những sản phẩm được thị trường quốc tế quan tâm và đánh giá cao như thuốc nổ, pháo hoa, tàu các loại, hàng cơ khí... đặc biệt, trong năm 2024 - 2025, dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng ủy, chỉ huy tổng cục, các doanh nghiệp đã có những hợp đồng xuất khẩu giá trị rất lớn, mang tính dài hạn và đang tiếp tục trao đổi các nhu cầu với đối tác. Qua đó, góp phần đưa doanh thu kinh tế chiếm tỷ trọng bình quân trên 60% trong tổng doanh thu của Tổng cục.
Những bản hợp đồng giá trị với các đối tác hàng đầu thế giới không chỉ là con số tăng trưởng mà còn khẳng định sự trưởng thành của các doanh nghiệp CNQP và vị thế của CNQP Việt Nam trên trường quốc tế.
margin: 15px auto;" />Lãnh đạo Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng chứng kiến ký kết xuất khẩu sản phẩm giữa doanh nghiệp của Tổng cục và đối tác nước ngoài. Ảnh: Hải Đăng
Thông qua các hoạt động hợp tác quốc tế, Tổng cục CNQP đã triển khai nhiều chương trình, dự án đầu tư nâng cao năng lực. Các doanh nghiệp CNQP đã có những hợp đồng xuất khẩu giá trị rất lớn, mang tính dài hạn; đồng thời, tiếp tục trao đổi nhu cầu với đối tác để mở ra cơ hội hợp tác mới.
Công nghiệp quốc phòng Việt Nam - lối đi khác biệt
Cùng với nhiệm vụ quốc phòng, phát triển kinh tế, các đơn vị của Tổng cục CNQP còn tham gia có hiệu quả vào các hoạt động hợp tác quốc tế và đối ngoại quốc phòng, góp phần củng cố, nâng cao hình ảnh của Quân đội nhân dân Việt Nam trong mắt bạn bè, đối tác quốc tế; thực hiện tốt chính sách đối ngoại thời kỳ đẩy mạnh hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước.
Thông qua hợp tác quốc tế, tổng cục đã triển khai nhiều chương trình, dự án đầu tư nâng cao năng lực của các doanh nghiệp CNQP. Hiện nay, các dự án lớn đều gắn liền với việc đào tạo kỹ sư trong nước, xây dựng dây chuyền lắp ráp tại Việt Nam và quan trọng nhất là quyền tiếp cận tài liệu kỹ thuật, tài liệu công nghệ và thiết kế hệ thống. CNQP Việt Nam đã khẳng định một lối đi khác biệt đó là biến mỗi hợp đồng chuyển giao công nghệ thành làm chủ công nghệ nền, công nghệ lõi. Đây là một “cuộc cách mạng” về tư duy chiến lược, khi từng bước biến ngoại lực thành nội lực, biến công nghệ thế giới thành trí tuệ CNQP Việt Nam.
Một trong những điểm nhấn quan trọng là sự tham gia tích cực của các doanh nghiệp thuộc Tổng cục vào các chương trình xúc tiến thương mại do Nhà nước và Bộ Quốc phòng tổ chức. Những sự kiện này góp phần đẩy mạnh hội nhập quốc tế, thúc đẩy hợp tác quốc phòng và CNQP, tạo dựng lòng tin giữa Việt Nam và các nước trên thế giới; quảng bá năng lực, tiềm lực công nghệ, vũ khí trang bị do CNQP Việt Nam sản xuất tới bạn bè quốc tế và xây dựng lòng tin của Nhân dân về tiềm lực quân sự, quốc phòng đất nước.
Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ trong công tác hợp tác quốc tế về CNQP và đối ngoại quốc phòng, song vẫn còn những trở ngại, như sự tương thích giữa luật pháp trong nước và các chuẩn mực kinh doanh quốc phòng quốc tế; việc thành lập các liên doanh sản xuất vũ khí giữa các doanh nghiệp CNQP với các tập đoàn tư nhân nước ngoài vẫn vướng phải những quy định về bảo mật thông tin và quản lý tài sản công; việc thiếu hụt các chuyên gia đầu ngành có khả năng đàm phán kỹ thuật và quản lý các dự án chuyển giao công nghệ phức tạp có thể khiến không làm chủ được hoàn toàn công nghệ nhập khẩu; phải cân bằng, chọn lọc đối tác hợp tác trong bối cảnh cạnh tranh địa chính trị gay gắt...

Sản phẩm do công nghiệp quốc phòng Việt Nam sản xuất, trưng bày tại Triển lãm Quốc phòng Quốc tế Việt Nam 2024. Ảnh: Nam Anh
Đòn bẩy chiến lược
Thời gian tới, trước bối cảnh tình hình thế giới và khu vực dự báo tiếp tục diễn biến phức tạp, để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ hợp tác quốc tế về CNQP, góp phần xây dựng hình ảnh Quân đội nhân dân Việt Nam Anh hùng, các cơ quan, đơn vị trong Tổng cục CNQP cần thực hiện tốt một số nội dung sau:
Một là, quán triệt và thực hiện tốt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Quân ủy Trung ương và Tổng cục liên quan đến phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế trong tình hình mới; đột phá phát triển khoa học, công nghiệp, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; đẩy mạnh phát triển CNQP đến năm 2030 và những năm tiếp theo; lãnh đạo nhiệm vụ lao động sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng của quân đội đến năm 2030; hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo; lãnh đạo nhiệm vụ đẩy mạnh sản xuất kinh tế và xuất khẩu đến năm 2030.
Hai là, tiếp tục nghiên cứu, rà soát và đề xuất hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến CNQP. Trong đó, việc xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn cho sản phẩm xuất khẩu phải cụ thể, rõ ràng nhằm giúp tháo gỡ những rào cản pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch quốc tế và nâng cao uy tín của sản phẩm CNQP Việt Nam trên thị trường thế giới.
Ba là, đẩy mạnh các hoạt động hợp tác quốc tế dựa trên thành quả từ các mối quan hệ ngoại giao của Nhà nước, bao gồm các quốc gia có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, đối tác có chung đường biên giới và những đối tác có quan hệ đặc biệt. Cần coi trọng cả hợp tác song phương lẫn đa phương, củng cố mối quan hệ với các đối tác truyền thống, đồng thời mở rộng hợp tác với các quốc gia có thế mạnh về khoa học, công nghệ để học tập và tiếp cận các thị trường mới. Quá trình triển khai thực hiện cần tham khảo, tiếp thu kinh nghiệm của các nước có nền CNQP phát triển, chuyên gia giỏi, tiếp nhận, chuyển giao công nghệ tiên tiến; khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển công nghiệp phụ trợ cho CNQP; áp dụng mô hình đối tác công - tư, liên doanh với nước ngoài.
Bốn là, năm 2026 sẽ diễn ra Triển lãm Quốc phòng Quốc tế Việt Nam lần thứ ba. Đây là sự kiện đối ngoại đa phương quan trọng, không chỉ là nơi giới thiệu vũ khí, trang bị “Make in Vietnam” mà còn khẳng định tư duy hợp tác CNQP mới. Sự kiện tiếp tục khẳng định chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam, gửi đi thông điệp về một nền quốc phòng minh bạch, không liên minh quân sự và không đe dọa quốc gia nào, là cơ hội để chứng minh cho thế giới thấy, đất nước Việt Nam không chỉ mạnh về ý chí mà còn vững về công nghệ, sẵn sàng đóng góp vào hòa bình, hợp tác, hữu nghị quốc tế. Do đó, các cơ quan, đơn vị cần quán triệt, đây là một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm trong năm 2026.
Năm là, tiếp tục kiện toàn biên chế, tổ chức, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có trình độ cao, đáp ứng yêu cầu phát triển CNQP, hội nhập quốc tế. Đồng thời, xây dựng cơ chế thu hút, đào tạo và đãi ngộ thỏa đáng các chuyên gia, kỹ sư có trình độ cao, tạo cơ hội tham gia sâu vào các dự án hợp tác chuyển giao công nghệ, qua đó nâng cao năng lực và trình độ chuyên môn.
Có thể khẳng định, những đột phá trong hợp tác quốc tế về CNQP sẽ là đòn bẩy chiến lược để Việt Nam trở thành điểm sáng về đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực CNQP.
"Khi cánh cửa hợp tác quốc tế tiếp tục mở rộng, Việt Nam không chỉ nâng cao tiềm lực quốc phòng, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ mà còn kiến tạo hình ảnh mới: một quốc gia yêu chuộng hòa bình nhưng sở hữu một nền CNQP tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại”, Thiếu tướng, TS. Phan Thị Hoài Vân.

