(Banker.vn) Năm 2025 kim ngạch xuất khẩu điều lần đầu tiên vượt mốc 5,4 tỷ USD. Để ngành điều Việt Nam duy trì đà tăng trưởng bền vững, ông Bạch Khánh Nhựt, Phó Chủ tịch Hiệp hội Điều Việt Nam (VINACAS) cho rằng, bài toán nguồn cung và chính sách thuế cần được tháo gỡ.
Phóng viên: Năm 2025 đã đi qua, thời điểm này, ông có thể chia sẻ những kết quả ngành điều đã đạt được? Những kết quả đó có đúng với kỳ vọng của VINACAS không, thưa ông?
Ông Bạch Khánh Nhựt: Kết thúc năm 2025, kim ngạch xuất khẩu điều của Việt Nam đạt khoảng 5,4 tỷ USD, tăng mạnh so với mức khoảng 4,5 tỷ USD của năm trước và là lần đầu tiên vượt mốc 5 tỷ USD. Đây có thể xem là một kỷ lục mới, ghi nhận sự đồng lòng, nỗ lực và đóng góp rất lớn của cộng đồng doanh nghiệp trong toàn ngành điều.
Trên thực tế trong lịch sử ngành điều chưa bao giờ có năm nào thực sự “dễ dàng”. Điểm nhấn lớn nhất trong năm vừa qua chính là chính sách thuế đối ứng của Mỹ. Trong hơn 10 năm liên tục đến năm 2024, Mỹ luôn là thị trường số một, chiếm khoảng 20%–21% thị phần xuất khẩu điều của Việt Nam; tiếp theo là châu Âu và Trung Quốc, hai thị trường này thay đổi vị trí cho nhau theo từng giai đoạn.
Khi Mỹ áp thuế đối ứng lên tới 20% trong một thời điểm, ngay lập tức các đơn hàng bị gián đoạn. Sự gián đoạn này kéo dài trong một thời gian, ảnh hưởng trực tiếp đến các doanh nghiệp Việt Nam, bởi trước đó họ đã xây dựng được thị phần ổn định tại thị trường Mỹ.
margin: 15px auto;" />Tuy nhiên, trong khó khăn lại nảy sinh những hướng đi mới. Các doanh nghiệp Việt Nam đã chủ động khai thác các thị trường mới, đặc biệt là khu vực Trung Đông và một số quốc gia Trung Á. Theo số liệu hải quan, xuất khẩu điều sang thị trường Trung Đông đã tăng trên 150% so với trước.
Bên cạnh đó, thị trường Trung Quốc cũng có sự phục hồi mạnh mẽ. Trước đây, Trung Quốc mua điều ở mức ổn định, nhưng năm vừa qua, sau khi kinh tế nội địa phục hồi sau dịch, nhu cầu tiêu dùng tăng lên, đặc biệt là với hạt điều. Nhờ đó, Việt Nam vừa mở rộng được thị trường Trung Đông, vừa gia tăng xuất khẩu sang Trung Quốc. Hai thị trường này không chỉ bù đắp phần sụt giảm từ Mỹ, mà còn giúp kim ngạch tăng trưởng cao hơn, đây là một thành công rõ nét của ngành điều.
Đến cuối năm 2025, Mỹ đưa mức thuế trở lại 0%, nhưng thời điểm này hầu hết các hợp đồng trong năm đã được thực hiện xong. Dù vậy, việc Mỹ áp thuế 0% trở lại được xem là yếu tố kích cầu rất tích cực cho năm 2026, giúp các nhà mua Mỹ quay lại nhập khẩu ổn định như trước.
Như vậy, ngành điều hiện nay vừa mở rộng được thị trường mới, vừa được miễn giảm thuế tại thị trường Mỹ, tạo ra nhiều điểm sáng cho năm 2026.
Phóng viên: Bên cạnh những tín hiệu tích cực, theo ông, đâu là những thách thức ngành điều đang đối mặt?
Ông Bạch Khánh Nhựt: Bức tranh phía trước có nhiều gam sáng nhưng đồng thời cũng tồn tại những mảng xám đáng lo ngại, đặc biệt là nguồn nguyên liệu. Bởi, Việt Nam phụ thuộc lớn vào điều thô nhập khẩu từ châu Phi, trong khi các nước châu Phi đang đẩy mạnh đầu tư nhà máy chế biến tại chỗ, giữ lại nguyên liệu để sản xuất.
Điều này khiến cán cân cung – cầu nguyên liệu cho Việt Nam có nguy cơ mất cân đối. Hiện nay, số doanh nghiệp Việt Nam đầu tư nhà máy chế biến tại châu Phi còn rất ít, còn lại chủ yếu là doanh nghiệp nước ngoài, nên không thể xem đó là lực lượng mở đường cho ngành điều Việt Nam.
Năm 2026 vì vậy sẽ là một năm vừa có thuận lợi, vừa có khó khăn, trong đó khó khăn lớn nhất vẫn là nguồn nguyên liệu.
Phóng viên: Trước những thách thức đó, Hiệp hội có đề xuất giải pháp gì giúp các doanh nghiệp trong ngành, thưa ông?
Ông Bạch Khánh Nhựt: Thực tế, các nhà máy châu Phi hiện nay chỉ làm được khoảng 70% công đoạn chế biến ban đầu, còn 30% công đoạn cuối - đòi hỏi nhiều lao động thủ công, thì họ chưa làm được. Phần này vẫn phải đưa về Việt Nam để gia công, chủ yếu do các hộ gia đình và doanh nghiệp nhỏ đảm nhận. Điều này khiến Việt Nam đang dần trở thành xưởng gia công cho các công ty điều châu Phi.
Vì vậy, Hiệp hội kiến nghị Chính phủ xem xét chính sách kiểm soát hàng nhập khẩu từ châu Phi, không phải để cấm, mà để đảm bảo sự công bằng trong thương mại. Hiện nay, khi Việt Nam mua điều thô từ châu Phi thì đã phải chịu thuế ngay từ phía họ nhưng khi điều nhân còn vỏ lụa của châu Phi nhập vào Việt Nam lại được miễn thuế, khiến họ hưởng lợi “hai chiều”.
Chúng tôi đề nghị nghiên cứu áp thuế đối với điều nhân nhập khẩu từ châu Phi để tạo sự công bằng. Kiến nghị này cũng được nhiều chuyên gia kinh tế ủng hộ và đánh giá là hợp lý.
Giải pháp thứ hai là kiểm soát an toàn thực phẩm. Điều nhân sơ chế là bán thành phẩm thực phẩm, khi nhập khẩu vào Việt Nam không còn xem là nguyên liệu thô. Sau khi chúng ta hoàn thiện 30% công đoạn cuối và xuất khẩu, sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam, nên việc kiểm soát an toàn thực phẩm từ gốc là rất quan trọng. Phần lớn các cơ sở chế biến tại châu Phi hiện nay khó có thể đạt tiêu chuẩn như các nhà máy tại Việt Nam, do đó cần chính sách kiểm soát chặt chẽ hơn.
VINACAS kỳ vọng hai giải pháp này sẽ giúp giảm bớt bất lợi về nguồn nguyên liệu cho ngành điều Việt Nam, không phải vì chúng ta yếu, mà vì hiện nay cách ứng xử thương mại chưa công bằng.
Phóng viên: Với những kết quả đạt được trong năm 2025, bước sang năm 2026, ngành điều đặt mục tiêu xuất khẩu ở mức nào, thưa ông?
Ông Bạch Khánh Nhựt: Với nhiều yếu tố khó lường, ngành điều xác định mục tiêu giữ kim ngạch xuất khẩu trên 5 tỷ USD.
Hiện nay, Việt Nam nhập khẩu khoảng 130.000 tấn điều nhân, tương đương 600.000–700.000 tấn điều thô, trong khi sản lượng điều thô trong nước chỉ khoảng 400.000 tấn. Theo số liệu hải quan, 4 năm liên tiếp, lượng điều nhân nhập khẩu do các nước sản xuất tăng sản lượng rất mạnh, năm 2026 không có lý do gì để xu hướng này giảm.
Nếu năm nay châu Phi sản xuất khoảng 600.000 tấn điều thô, thì năm sau có thể lên 700.000–800.000 tấn, thậm chí hàng triệu tấn trong các năm tiếp theo. Với đà tăng này, Việt Nam không thể quá tự tin đẩy mạnh xuất khẩu, nếu không kiểm soát được nguồn nguyên liệu đầu vào.
Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn ông!
Nguyễn Huyền

