Lịch âmCông cụ tínhDashboardSPECIAL
Tin mớiNgân hàngVN30
Banker.vn - Tin tức Tài chính Ngân hàng
banner
  • Trang chủ
  • Ngân hàng
  • Thị trường
  • Tài chính
  • Quốc tế
  • Công nghệ
  • Xã hội
  • Đầu tư
  • Năng lượng
  • FTA
  • Giá xe
HOT
Banker Logo
Tin mới
Banker Logo
Trang chủ

Tài chính - Ngân hàng

Ngân hàng
Thị trường
Tài chính
Đầu tư

Tin tức

Quốc tế
Công nghệ
Xã hội
Năng lượng
FTA

Tiện ích

Giá xe
Tin mới nhất
Trang chủChứng khoán

Kinh tế thế giới năm 2025 và kỳ vọng năm 2026

16/02/2026 - 08:1917 phút đọcGoogle News

(Banker.vn) Mặc dù tiếp tục vấp phải thách thức nghiêm trọng bắt nguồn từ xu hướng gia tăng các rào cản thương mại và bất ổn chính sách kinh tế, nhưng kinh tế toàn cầu năm 2025 vẫn bền vững nhờ các nỗ lực không mệt mỏi của các nhà tạo lập chính sách trong việc xây dựng các giải pháp chính sách mới, cả tại các nước phát triển (AEs) và đang phát triển (EMDEs).

Năm 2025, GDP toàn cầu ước tính tăng 3,2-3,3% trong năm nay và tăng 2,9-3,1% trong năm 2026. Trong năm 2025, kinh tế các nước AEs tăng khoảng 1,5%. Trong đó, kinh tế Mỹ giảm tốc xuống mức tăng 2,1%, kinh tế các nước khu vực đồng Euro tăng khoảng 1,4%, kinh tế Nhật Bản tăng 1,3%, kinh tế Vương quốc Anh tăng 1,4%. Kinh tế các nước EMDEs suy giảm nhẹ trong năm nay, nhưng vẫn tăng trên 4,0%. Trong số này, kinh tế Trung Quốc tăng 5,0%, kinh tế Thổ Nhĩ Kỳ tăng 4,2%, Nam Phi tăng 1,3%.

Xu hướng giảm tốc kinh tế phản ánh những khó khăn bắt nguồn từ vấn đề thuế quan, chính sách của các ngân hàng trung ương (NHTW), rủi ro địa chính trị âm thầm, mặc dù các cú sốc thuế quan không gay gắt như thông báo ban đầu. Trên toàn cầu, lạm phát tiếp tục giảm xuống tỷ lệ 4,2% trong năm 2025 và 3,7% trong năm 2026, nhưng có sự trái ngược là lạm phát tăng tại Mỹ và giảm tại nhiều nước khác trên thế giới. Trong năm 2025-2026, hoạt động thương mại toàn cầu tăng trung bình 2,9%, chủ yếu nhờ tập trung các nỗ lực duy trì hoạt động thương mại, đầu tư trong năm 2025, nhưng vẫn thấp hơn kết quả tăng 3,5% trong năm 2024, trong khi xu hướng chia cắt thương mại tiếp tục kéo dài. Mặc dù lãi suất tại nhiều nước tiếp tục giảm trong năm 2025 và trong năm 2026, song mặt bằng lãi suất vẫn cao hơn trước đại dịch COVID-19.

Nỗ lực của các cơ quan quản lý nhà nước

Đầu tháng 2/2025, khi chính quyền của Tổng thống Donald Trump thông báo chủ trương tăng thuế đối với hàng nhập khẩu, hầu hết các tổ chức quốc tế đã phải điều chỉnh giảm dự báo GDP xuống mức tăng thấp nhất kể từ năm 2008 do lo ngại những thay đổi về chính sách thương mại của Mỹ sẽ cản trở tiến trình phục hồi kinh tế toàn cầu.

Từ đầu tháng 4/2025, rối loạn tăng trưởng kinh tế đã đẩy giá cả hàng hóa lao dốc. Trong số này, giá dầu giảm sâu nhất, nguyên nhân là do nhu cầu tiêu thụ yếu ớt, trong khi OPEC+ tiếp tục tăng sản lượng. Mặc dù đã phục hồi phần nào, nhưng khó khăn trong lĩnh vực công nghiệp và công nghiệp chế tạo toàn cầu đã đẩy giá kim loại cơ bản giảm thấp. Đến tháng 7/2025, thông báo của Mỹ về giảm bớt các mức thuế quan đã hạ nhiệt căng thẳng thương mại, nhiều tổ chức quốc tế đã nâng dự báo GDP toàn cầu năm 2025.

Sau thông báo thuế quan của Mỹ, các quốc gia đối tác chủ chốt đã khẩn trương thảo luận để hạ nhiệt căng thẳng thương mại. Trong khi đó, quyết định cắt giảm phần lớn trợ cấp quốc tế dành cho các nước đang phát triển và những rào cản mới về nhập cư đang lan truyền từ Mỹ sang một số AEs khác. Một số nền kinh tế chủ chốt đã tăng cường các gói kích thích tài khóa, thổi bùng những lo ngại về tính bền vững của nền tài chính công và nguy cơ lan truyền rủi ro xuyên biên giới. Trong bối cảnh triển vọng tăng trưởng trung hạn không mấy lạc quan, các nền kinh tế thế giới, các định chế tài chính và thị trường tăng cường điều chỉnh để thích ứng với xu hướng gia tăng bảo hộ và phân đoạn kinh tế.

Nhằm hạ nhiệt căng thẳng và tránh bị áp mức thuế cao, một số quốc gia đã nhanh chóng tiếp cận Tổng thống Donald Trump để thảo luận, nhất là những quốc gia có thặng dư thương mại cao với Mỹ. Tuy nhiên, không phải quốc gia nào cũng sẵn sàng thương lượng. Trung Quốc lựa chọn hướng đối đầu và tuyên bố áp thuế trả đũa, kéo theo một số quốc gia khác làm theo nhưng có vẻ không hiệu quả. Canada và EU cũng lựa chọn hướng đối đầu, nhưng chỉ áp thuế nếu phía Mỹ không chấp nhận đề xuất giảm thuế xuất nhập khẩu về 0%.

Để giảm thiểu rủi ro từ rào cản thuế quan, các quốc gia xuất khẩu hàng đầu vào Mỹ tìm cách chuyển hướng, chủ động tái cấu trúc chuỗi cung ứng và phân khúc hóa sản phẩm, mở rộng sự hiện diện tại các thị trường ngoài Mỹ như châu Âu, CHLB Nga, Australia, Mỹ Latinh, ASEAN, BRICS và Đông Bắc Á - những quốc gia và khu vực được xem là lựa chọn thay thế tiềm năng và ổn định hơn trong ngắn hạn, thúc đẩy liên kết chuỗi cung ứng sâu rộng hơn, qua đó góp phần duy trì đà tăng trưởng ổn định và bền vững cho cả hai bên.

Một số nền kinh tế dựa vào xuất khẩu - điển hình là các nước Đông Nam Á - cố gắng tuân theo những yêu cầu từ Washington để giảm thiểu các khoản thuế quan của Mỹ. Trong một tuyên bố ngày 11/4/2025 từ Hội nghị thường kỳ diễn ra tại Kula Lumpur (Malaysia), Bộ trưởng kinh tế các nước ASEAN nói khối này thống nhất quan điểm cho rằng, trả đũa: Thuế quan không phải là lựa chọn.

Về cơ bản, các nỗ lực đàm phán thương mại đã góp phần giảm thuế và bất ổn kinh tế, các động lực cải cách mới đã giúp các nước vượt qua thách thức và qua đó thúc đẩy tăng trưởng trong trung hạn. Ngoài ra, hầu hết các quốc gia và doanh nghiệp đã tăng cường đầu tư, ứng dụng tiến bộ công nghệ, nổi bật là trí tuệ nhân tạo (AI), qua đó thúc đẩy năng suất lao động và cải thiện tăng trưởng kinh tế.

Đối sách của các Ngân hàng Trung ương

Trong năm 2025, các Ngân hàng Trung ương (NHTW) chủ chốt tiếp tục cắt giảm lãi suất với quy mô và tốc độ cao nhất kể từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2009, bao gồm FED, ECB, BoE, RBA, RBZ, BOC, Riksbank, NorgesBank và SNB. Tổng mức giảm 850 điểm cơ bản (8,5%) trong 32 đợt cắt giảm, chứng kiến xu hướng đảo chiều rõ rệt từ năm 2022-2023, khi các nhà tạo lập chính sách tăng lãi suất để chống lạm phát do giá năng lượng leo thang sau khi xung đột đội Nga – Ukraine nổ ra.

NHTW châu Âu (ECB)

Trong năm 2025, ECB đã tiến hành 4 đợt cắt giảm lãi suất (vào ngày 30/1; 6/3; 17/4; 5/6), đưa lãi suất tiền gửi xuống 2,0%, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ 4,0% vào giữa năm 2023, và là mức thấp nhất kể từ tháng 12/2022. Lãi suất tái cấp vốn được điều chỉnh giảm từ 2,4% xuống 2,15%; lãi suất cho vay giảm từ 2,65% xuống 2,4%.

Trước đó vào năm 2024, ECB đã tiến hành 4 đợt giảm lãi suất, bắt đầu từ tháng 6/2024, nhằm khắc phục khó khăn về kinh tế do tác động của các yếu tố địa chính trị trong khu vực, cuộc chiến tại Ukraine đã dẫn đến tình trạng thiếu hụt xăng dầu, khí đốt - nguồn nguyên liệu đầu vào quan trọng nhất đối với nhiều ngành sản xuất công nghiệp. Những khó khăn này tiếp tục đeo bám các nước khu vực đồng Euro trong năm 2025, lạm phát giảm chậm và vẫn ở mức cao. Trong khi đó, mối quan hệ thương mại mới với Mỹ trở nên căng thẳng, nhưng các quan chức EU đã thể hiện bản lĩnh kiên định và vững vàng trong việc đưa ra đối sách, góp phần đưa quan hệ thương mại song phương ổn định trở lại.

Sau cuộc họp tháng 6/2025, ECB tạm dừng chu kỳ nới lỏng tiền tệ, do lạm phát đã giảm trở lại gần mục tiêu 2% của ECB và có nhiều khả năng sẽ tiếp tục giảm trong năm 2026 và 2027. Tại cuộc họp chính sách tiền tệ cuối cùng của năm 2025 diễn ra vào ngày 17/12, ECB giữ nguyên lãi suất (lần thứ tư liên tiếp) và nâng dự báo GDP khu vực, đánh dấu lần thứ hai kể từ năm 2024, ECB nâng dự báo tăng trưởng kinh tế khu vực đồng tiền chung Euro. Theo đó, GDP được dự báo sẽ tăng trưởng 1,4% trong năm 2025, cao hơn 0,2% so với dự báo tăng 1,2% đưa ra hồi tháng 9, giảm nhẹ xuống mức tăng trưởng 1,2% trong năm 2026, sau đó tăng trở lại lên mức tăng 1,4% trong năm 2027-2028. Theo một khảo sát của hãng tin Bloomberg với các nhà kinh tế trong thời gian từ ngày 17 đến ngày 22/10/2025, ECB được dự báo sẽ giữ nguyên lãi suất ở mức 2% cho đến năm 2027.

Ngân hàng Dự trữ liên bang Mỹ (FED)

So với ECB và một số NHTW khác tại AEs, động thái của FED được đánh giá là thận trọng hơn, nguyên nhân là do cơ quan này phải cân nhắc tác động chính sách đến tình hình trong nước và thế giới bên ngoài, đặc biệt sau khi Tổng thống Donald Trump công bố tăng thuế đối với các mặt hàng nhập khẩu vào thị trường Mỹ, cắt giảm hàng loạt khoản chi tiêu và chương trình viện trợ nước ngoài. Với vai trò là cơ quan độc lập với chính phủ, Chủ tịch FED Jerome Powell phản đối lời kêu gọi của Tổng thống Trump cắt về giảm lãi suất và cảnh báo, cuộc chiến thương mại sẽ đẩy lạm phát tăng cao và kìm hãm tăng trưởng kinh tế. Sau khi tính toán kỹ lưỡng, ngày 17/9, FED mới quyết định giảm lãi suất 25 điểm cơ bản (0,25%). Sau đó, FED tiến hành thêm 2 đợt cắt giảm lãi suất (vào ngày 13/10 và 10/12), mỗi đợt cùng giảm 0,25%, đưa lãi suất cho vay qua đêm xuống 3,5-3,75%.

Tại cuộc họp cuối năm 2025, FED phát tín hiệu có thể tạm dừng giảm lãi suất trong một thời gian, mặc dù vẫn còn dư địa để giảm lãi suất trong bối cảnh thị trường việc làm đang suy yếu. Đây được xem là chiến lược “cắt và chặn” mà Chủ tịch Powell từng áp dụng năm 2019 khi kết thúc 3 đợt giảm lãi suất liên tiếp trong bối cảnh chia rẽ nội bộ sâu sắc do dữ liệu kinh tế gây nhiều tranh cãi. FED khẳng định sẽ đánh giá kỹ lưỡng các dữ liệu sắp tới, triển vọng của nền kinh tế và các rủi ro để điều chỉnh chính sách tiền tệ một cách phù hợp, không gây áp lực đối với nền kinh tế và hướng tới mục tiêu đưa lạm phát về ngưỡng mục tiêu 2%.

FED kỳ vọng, kinh tế Mỹ sẽ tăng 2,3% trong năm tới, cao hơn so với dự báo hồi tháng 9 là tăng 1,8%; chỉ số chi tiêu dùng cá nhân (PCE) sẽ giảm về tỷ lệ 2,4%; tỷ lệ thất nghiệp 4,4%.

NHTW Anh (BoE)

Tại cuộc họp cuối cùng trong năm 2025 diễn ra vào ngày 18/12, BoE hạ lãi suất chính sách 0,25% xuống mức 3,75%. Đây là đợt giảm lãi suất thứ 6 của BoE kể từ khi chu kỳ nới lỏng bắt đầu vào mùa hè năm ngoái.

Thống đốc BoE Andrew Bailey cho biết, BoE vẫn còn dư địa để tiếp tục giảm thêm lãi suất, nhưng vấn đề chính là liệu lạm phát có giảm về mục tiêu 2% một cách bền vững hay không. Phát biểu của Thống đốc Bailey sau cuộc họp cũng cho thấy, BoE đang tiến gần tới kết thúc chu kỳ nới lỏng này, phù hợp với xu hướng lãi suất tại AEs khác. Thị trường hoán đổi lãi suất dự báo, BoE có thể tiến hành thêm 1-2 đợt giảm lãi suất trong năm 2026, mỗi lần giảm 0,25%.

Các số liệu kinh tế công bố cuối năm cho thấy, kinh tế Anh suy yếu và lạm phát giảm nhanh hơn dự kiến. Tỷ lệ thất nghiệp trong kỳ 3 tháng tính đến tháng 10 tăng lên 5,1%, mức cao nhất trong 4 năm qua, lạm phát tháng 11 giảm còn 3,2%, mức thấp nhất trong 8 tháng qua. Theo dự báo mới nhất của BoE, GDP không tăng trong quý IV/2025 và kết thúc một năm tăng trưởng ảm đạm, lạm phát ở Anh có thể giảm xuống 3,0% trong quý 1/2026, và về gần mức 2% trong quý II/2026.

NHTW Nhật Bản (BoJ)

Đi ngược xu hướng giảm lãi suất toàn cầu, BoJ đã tiến hành 2 đợt tăng lãi suất trong năm 2025. Sau khi kết thúc hơn một thập niên thực hiện chương trình kích thích quy mô lớn vào năm 2024, BoJ quyết định tăng lãi suất cơ bản từ tỷ lệ 0,25% lên 0,5% vào ngày 24/01/2025, mức cao nhất trong vòng 17 năm. Quyết định được đưa ra trong bối cảnh BoJ kỳ vọng về xu hướng tăng lương sau các cuộc đàm phán thường niên giữa người lao động và ban quản lý trong năm. Sau đó, Boj giữ nguyên mức lãi suất này để đánh giá tác động từ thông báo của Mỹ về các mức thuế quan mới áp đặt lên hàng hóa nhập khẩu từ Nhật Bản.

Ngày 19/12, BoJ quyết định tăng lãi suất thêm 0,25%, đưa lãi suất chính sách của BoJ lên 0,75%, mức cao nhất kể từ năm 1995 - thời điểm nền kinh tế Nhật Bản chao đảo sau khi bong bóng tài sản nổ tung và rơi vào vòng xoáy giảm phát kéo dài. Đây là bước tiếp theo trong quá trình bình thường hóa chính sách mà BoJ khởi động từ năm ngoái, chính thức từ bỏ chế độ lãi suất âm đã tồn tại từ năm 2016. Kể từ đó, BoJ kiên định với lập trường tăng lãi suất theo lộ trình từng bước, với mục tiêu tạo ra “chu kỳ tích cực” giữa tăng lương và giá cả.

Tuy nhiên, lạm phát tại Nhật Bản đã vượt mục tiêu 2% của BoJ trong suốt 44 tháng liên tiếp. Dữ liệu công bố cùng ngày 19/12 cho thấy, giá tiêu dùng tăng 2,9% trong tháng 11, tiếp tục gây áp lực lên tiền lương thực tế vốn đã suy giảm 10 tháng liên tiếp. Ngoài ra, động thái tăng lãi suất có nguy cơ trầm trọng thêm tình trạng suy thoái kinh tế Nhật Bản. Số liệu GDP sửa đổi quý III cho thấy, nền kinh tế thu hẹp mạnh hơn ước tính ban đầu (giảm 0,6% so quý trước đó và giảm 2,3% so với cùng kỳ năm trước).

Động thái tăng lãi suất diễn ra vào thời điểm lợi suất Trái phiếu Chính phủ" data-glossary-english="Government Bond" data-glossary-def="Chứng khoán nợ do Chính phủ phát hành, an toàn nhất trên thị trường.">trái phiếu Chính phủ Nhật Bản chạm mức cao nhiều thập niên, làm dấy lên lo ngại về chi phí vay tăng cao và căng thẳng tài khóa gia tăng. Với tỷ lệ nợ công gần 230% GDP - cao nhất thế giới (theo IMF), Nhật Bản đang đối mặt với áp lực ngân sách nghiêm trọng.

Theo Shigeto Nagai, Chuyên gia kinh tế Nhật Bản tại Oxford Economics, BoJ có thể tiếp tục tăng lãi suất vào giữa 2026 lên 1% - mức lãi suất “trung lập” (mức cân bằng giữa kiểm soát lạm phát và tăng trưởng kinh tế) mà không kìm hãm hay gây ra tăng trưởng kinh tế quá nóng.

Trong những tháng cuối năm 2025, xuất hiện sự khác biệt đáng kể tại một số NHTW hàng đầu. Cụ thể là, NHTW Canada (BOC) và Ngân hàng Úc (RBA) phát tín hiệu sẽ tăng lãi suất trong kỳ họp đầu năm 2026. Với dấu hiệu này, các chuyên gia kỳ vọng, năm 2026 có thể chứng kiến biến đổi lớn, ECB sẽ tăng lãi suất, sau đó là BoE. BoJ có thể phải tiếp tục tăng lãi suất, sau khi đánh giá chi tiết tác động của đợt tăng lãi suất gần đây (cuối năm 2025).

Tương tự trường hợp AEs, nhiều NHTW các nước đang phát triển cũng cắt giảm lãi suất, với quy mô và số đợt cắt giảm nhiều hơn so với trong năm 2024, thể hiện nỗ lực cắt giảm sâu nhất kể từ năm 2021. Một số NHTW các nước đang phát triển cũng tăng lãi suất, nhưng với quy mô chưa bằng phân nửa so với năm trước.

Nhờ sự vào cuộc quyết liệt của các cơ quan quản lý tiền tệ quốc gia, lạm phát tại hầu hết các nước tiếp tục giảm, mặc dù vẫn tăng cao tại Mỹ và Anh. Có được tính bền vững này là do tác động của các yếu tố ngắn hạn (như tập trung đầu tư và thương mại cũng như chiến lược quản lý hàng tồn kho) hơn là sức mạnh cơ bản. Khi những yếu tố này không còn phát huy tác dụng, các dữ liệu kinh tế yếu ớt xuất hiện. Nỗ lực mở rộng thương mại, đầu tư yếu dần, thị trường lao động giảm nhẹ. Các mức thuế quan mới do Mỹ áp đặt bắt đầu tác động đến giá cả tiêu dùng tại Mỹ. Tại AEs, các dòng lao động nhập cư suy giảm mạnh, ảnh hưởng đến tiềm năng tăng trưởng.

Tương tự như cuối năm 2024, điều kiện tài chính thắt chặt trong năm nay, chủ yếu là do tác động bắt nguồn từ bất ổn chính sách thương mại. Trong những ngày đầu tháng 4/2025, các thị trường tài chính chao đảo mạnh và giá cổ phiếu lao dốc trên phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên, giá tài sản đã phục hồi trở lại, sau khi Mỹ thông báo tạm hoãn áp thuế trong thời hạn 90 ngày và Mỹ cùng với Trung Quốc giảm mặt bằng thuế quan từ tháng 5/2025. Tại các AEs chủ chốt, lợi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn dài chao đảo mạnh và tăng cao từ cuối năm 2024. Còn ở các nước đang phát triển và mới nổi (EMDEs), điều kiện tài chính nhìn chung cũng thắt chặt phần nào. Đầu tháng 4/2025, giá cổ phiếu tại nhiều EMDEs giảm sâu do dòng vốn ra tăng cao. Chênh lệch lợi suất tăng cao, mặc dù có sự khác biệt giữa các quốc gia, tùy theo mức độ rủi ro trước các rào cản thương mại. Tuy nhiên, thị trường cổ phiếu tại EMDEs đã tăng trở lại và chênh lệch lợi suất thu hẹp, sau khi căng thẳng thương mại hạ nhiệt.

Một yếu tố quan trọng phía sau tính bền vững của kinh tế thế giới năm 2025 là, hầu hết EMEs thể hiện sức bền vững rõ rệt trước các cú sốc tàn khốc, bao gồm khó khăn sau đại dịch COVID-19 và áp lực lạm phát sau đó. Trong khi điều kiện bên ngoài thuận lợi đã góp phần củng cố năng lực của những quốc gia này trong trụ vững trước các cú sốc với rủi ro có nguy cơ tăng cao, các nỗ lực cải thiện khung khổ chính sách đóng vai trò quyết định trong việc ổn định tình hình kinh tế vĩ mô, cho phép EMEs thực thi các chính sách thích hợp. Tính bền vững tăng dần của EMEs trước các cú sốc với rủi ro tăng dần sau khủng hoảng tài chính toàn cầu tương ứng với thời kỳ mà nhiều quốc gia chấp nhận chế độ mục tiêu lạm phát và các quy định tài khóa và thắt chặt quản lý vĩ mô thận trọng.

Triển vọng năm 2026

Mặc dù phương pháp tính toán và đánh giá có sự khác biệt nhất định, nhưng kinh tế toàn cầu năm 2026 được dự báo tăng trong khoảng 2,9-3,1%, sau đó ổn định ở mức tăng này trong năm 2027, nhờ tiêu dùng bền vững và chi tiêu vốn tăng cao. Trong ngắn hạn, hoạt động kinh tế được dự báo sẽ giảm nhẹ khi các động thái tăng thuế quan sẽ đẩy chi phí tăng dần, ảnh hưởng tiêu cực đến đầu tư và thương mại, trong bối cảnh bất ổn chính sách và địa chính trị triền miên. GDP toàn cầu được kỳ vọng sẽ tăng vững trở lại vào cuối năm 2026 khi tác động của thuế quan yếu dần, điều kiện tài chính cải thiện và lạm phát thấp sẽ hỗ trợ tăng nhu cầu, trong đó EMEs châu Á sẽ tiếp tục đóng góp chủ yếu cho xu hướng tăng này.

Có nhiều yếu tố hỗ trợ tăng trưởng GDP toàn cầu trong ngắn hạn, như các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trước cuộc bầu cử giữa kỳ 2026 tại Mỹ. Các gói kích thích tài khóa tại Trung Quốc, đầu tư tại châu Âu, tăng trưởng AI và các thỏa thuận thương mại giữa Mỹ với các bên đối tác có thể thúc đẩy kinh tế toàn cầu và mở rộng chu kỳ tăng trưởng. Những thách thức gần đây đối với tính độc lập của Fed và một số NHTW khác có thể tiếp tục hỗ trợ kinh tế toàn cầu trong trung hạn, mặc dù chính sách tiền tệ nới lỏng có thể làm tăng mất cân bằng dài hạn.

Lạm phát được dự báo tiếp tục giảm về mục tiêu của các NHTW, mặc dù lạm phát cơ bản vẫn đứng ở mức cao tại một số khu vực. Nhờ lạm phát tiếp tục giảm tại hầu hết các nền kinh tế chủ chốt, các nhà tạo lập chính sách tiền tệ tại Mỹ, VQ Anh và khu vực euro vẫn còn nhiều dư địa để giảm lãi suất.

Kinh tế Mỹ có thể tăng chậm trong sáu tháng đầu năm 2026, sau đó sẽ tăng tốc trong nửa cuối năm - nhờ động lực chi tiêu dùng và đầu tư, cùng với chính sách tài chính tiền tệ nới lỏng - lên 1,8% trong năm 2026 và 2,0% trong năm 2027. Tiềm năng tăng trưởng khởi sắc, nhờ AI thúc đẩy năng suất lao động. Tuy nhiên, bất ổn vẫn ở mức cao và nhiều yếu tố chi phối triển vọng kinh tế. Một mặt, nhu cầu chi tiêu và AI dẫn dắt tăng năng suất có thể hỗ trợ GDP tăng cao hơn dự báo cơ bản. Mặt khác, kinh tế Mỹ có thể vấp phải khó khăn lớn do những vấn đề bao gồm: chính sách tiền tệ, thuế quan và nhập cư. Trong trường hợp như vậy, kinh tế Mỹ có thể suy thoái nhẹ.

Kinh tế Trung Quốc năm 2026 được dự báo sẽ tăng 5,0%, nhờ chính phủ hỗ trợ tập trung nguồn lực ban đầu, sau đó giảm xuống mức tăng 4,5% trong năm 2027 khi tác động của gói kích thích tài khóa này giảm dần. GDP tại khu vực euro có thể tăng khiêm tốn 1,1% trong năm 2026 và 1,3% trong năm 2027, do các gói hỗ trợ tài khóa tại Đức có thể bù đắp phần nào chương trình củng cố tài khóa tại Pháp và Italia.

Xu hướng giảm phát

Tại Mỹ, lạm phát tiếp tục giảm theo xu hướng chung toàn cầu. Chỉ số chi tiêu dùng cá nhân (PCE) được dự báo tăng trong quý 1/2026 do tác động của thuế quan và hạn chế nhập cư, sau đó sẽ giảm dần. PCE lõi được dự báo sẽ đứng ở mức 2,6% vào cuối năm 2026 và 2,3% vào cuối năm 2027.

Tại khu vực Euro, lạm phát cơ bản tăng 1,7% vào cuối năm 2026 và trong năm 2027, thấp hơn mục tiêu đề ra 2,0% của ECB.

Tại Nhật Bản, lạm phát cơ bản và lạm phát lõi trong quý II và quý III/2025 tăng cao hơn mục tiêu 2,0%, nhưng sẽ giảm dần xuống dưới tỷ lệ 2,0% vào cuối cuối năm 2026 và tăng trở lại lên 2,0% vào năm 2027. Tại Trung Quốc, lạm phát lõi có thể sẽ thoát trạng thái âm, nhưng chỉ số giảm phát GDP được kỳ vọng dao động quanh ngưỡng dưới 0% do năng lực kinh tế dư thừa quá mức chỉ giảm từng bước.

Lãi suất tiếp tục giảm

Do lạm phát chuyển biến tích cực, chính sách tiền tệ tại các nền kinh tế chủ chốt được dự báo sẽ dịch chuyển theo hướng trung tính. FED có thể tiến hành giảm lãi suất vào tháng 4/2026, nếu thị trường việc làm tăng chậm và lạm phát vẫn tăng. Sau khi giảm lãi suất cơ bản về mức 3,0-3,25%, FED có thể sẽ tạm dừng tiến độ giảm lãi suất. Mặc dù Tổng thống Donald Trump có thể bổ nhiệm Chủ tịch FED mới vào quý II/2026, nhưng phản ứng chính sách của FED nhìn chung sẽ không thay đổi do hầu hết thành viên Hội đồng Chính sách tiền tệ liên bang (FOMC) vẫn tại vị tới năm 2027.

ECB thông báo chủ trương duy trì mặt bằng lãi suất hiện nay. Tuy nhiên, do kinh tế khu vực Euro tăng chậm và yếu ớt, lạm phát thấp hơn mục tiêu 2,0%, nên ECB có thể tiến hành hai đợt giảm lãi suất trong năm 2026, đưa lãi suất chính sách xuống 1,5% vào giữa năm 2026. Do kinh tế giảm thấp và lạm phát giảm, BoE có thể giảm lãi suất xuống 2,75% trong năm 2026, trước khi tạm dừng. BoJ có thể tạm dừng tăng lãi suất để đánh giá tác động của đợt tăng lãi suất vào cuối năm 2025, sau đó sẽ cân nhắc tiếp tục tăng lãi suất lên 1,25% vào năm 2027.

Hoạt động đầu tư

Sau khi bất ổn chính sách và kinh tế vĩ mô chi phối hầu hết năm 2025, bức tranh đầu tư đang chuyển sang môi trạng thái lợi hơn - nhất là đối với tài sản rủi ro. Các doanh nghiệp và nền kinh tế có thể hưởng lợi từ kết quả tăng năng suất liên quan đến AI, trong khi thiểu phát và tăng trưởng toàn cầu có thể đồng quy theo hướng tăng bền vững trong năm 2027, là tiềm năng thúc đẩy tăng trưởng trong tương lai.

Năm 2026, giá cổ phiếu tại Mỹ có thể vượt các cổ phiếu cùng loại, với chỉ số S&P500 có thể tăng lên 7.800 điểm, tăng 14% từ chỉ số hiện nay. Trong khi đó, chỉ số Topix tại Nhật Bản tăng 7%; chỉ số MSCI châu Âu tăng 4%.

Tăng trưởng thu nhập và dòng tiền tại Mỹ được hưởng lợi từ một vài yếu tố, bao gồm sự phối hợp chính sách thân thiện thị trường, Fed giảm lãi suất, thuế doanh nghiệp giảm 129 tỷ USD trong năm 2026, tăng trưởng thu nhập cao hơn chi phí, sức mạnh định giá xuất hiện trở lại, AI thúc đẩy năng suất tăng cao.

Cổ phiếu tại châu Âu và EMEs có thể không hưởng lợi từ những yếu tố thúc đẩy thị trường chứng khoán Mỹ. Dự báo tiêu cực về tăng trưởng tại khu vực euro và các thách thức cơ cấu, với sự đánh mất vị trí trong công nghiệp chế tạo vào tay Trung Quốc, bao phủ triển vọng cổ phiếu châu Âu. Chứng khoán Trung Quốc đối diện với khó khăn từ tiến triển tăng phát (chính sách kích thích để thúc đẩy tăng trưởng dài hạn) chậm chạp.

Tại Nhật Bản, thị trường chứng khoán có thể nhận được sự hỗ trợ từ các gói hỗ trợ tài khóa và cải cách điều chỉnh, cùng với các dòng vốn trong nước đổ vào cổ phiếu.

Liên quan đến thị trường trái phiếu chính phủ, các thị trường thu nhập cố định có thể tăng tốc trong 6 tháng đầu năm 2026, khi các NHTW thử nghiệm chuyển từ kiểm soát lạm phát sang quản lý cân bằng. Trong giai đoạn này, các doanh nghiệp nên cân nhắc tăng đầu tư vào trái phiếu chính phủ. Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ được kỳ vọng giảm cho đến giữa năm 2026, do Fed giảm lãi suất, sau đó phục hồi lên khoảng 4% vào cuối năm. Đường cong lợi suất tại khu vực Euro và VQ Anh cũng có thể tăng cao, nhưng thấp hơn so với tại Mỹ.

Trong giai đoạn trung hạn, kinh tế toàn cầu đối diện với nhiều tác động tiêu cực hơn là tích cực. (i) Thị trường vốn và nguy cơ bất ổn tài chính, với dự báo thị trường sẽ điều chỉnh do tài sản đảm bảo để làm cơ sở cho vay.">định giá tài sản toàn cầu tăng quá cao (thị trường sẽ điều chỉnh giảm 10-20% trong năm 2025-2026, do rủi ro bắt nguồn định giá tài sản toàn cầu tăng mạnh (AI, rủi ro thương mại và địa chính trị), rủi ro đòn bẩy trên bảng cân đối kế toán của các định chế tài chính phi ngân hàng (bao gồm rủi ro trong khu vực tư nhân) cùng với các mối liên kết với hệ thống ngân hàng truyền thống, bất ổn trong AI thiếu kiểm soát và khu vực tiền ảo, xu hướng mới về xóa bỏ điều chỉnh tài chính tại Mỹ và toàn cầu; (ii) Căng thẳng thương mại leo thang có thể trầm trọng thêm bất ổn kinh tế và đe dọa tính ổn định của kinh tế toàn cầu; (iii) Các thách thức ngân sách quốc gia làm tăng khả năng thị trường vốn phải định giá lại chi phí nợ công; (iv) Rủi ro địa chính trị đe dọa trật tự thế giới sau thế chiến 2, dẫn dắt bởi các thử nghiệm đang tiến hành tại Mỹ có thể dẫn đến những rạn nứt từ Nam Âu đến Trung Đông.

Lãi suất tiếp tục giảm nhưng sẽ ổn định ở mức cao trong những năm tới đây, tài sản được định giá quá cao so với tiêu chuẩn lịch sử, kỳ vọng về các đợt điều chỉnh thị trường cùng với xu hướng xóa bỏ điều chỉnh tài chính toàn cầu đặt ra nhiều rủi ro dài hạn đối với tính bền vững tài chính. Các nhà điều chỉnh lo ngại về việc chính trị hóa các kênh hoán đổi USD sau khi Chủ tịch Jerome Powell kết thúc nhiệm kỳ trước tháng 5/2026, đặt ra những thách thức về tính độc lập của FED. Trên toàn cầu, nợ khu vực phi tài chính vẫn ở mức cao, mặc dù thấp hơn thời kỳ đại dịch, nợ tồn đọng tăng cao và đang tương đương 242% GDP toàn cầu.

Thách thức đối với trật tự thế giới đa phương sau chiến tranh và hệ thống quốc tế đa cực có thể sẽ quay trở lại theo cấu trúc trước thế chiến 2 với đặc điểm là khủng hoảng tài chính thường xuyên hơn, nợ chính phủ, lạm phát và lãi suất tăng cao.

Khó khăn kinh tế toàn cầu nhấn mạnh sự cần thiết phải triển khai các giải pháp chính sách đa dạng, củng cố môi trường minh bạch và có thể dự báo nhằm giải quyết các căng thẳng thương mại, nhất là những vấn đề bắt nguồn từ bất ổn kinh tế vĩ mô. Theo đó, cải cách cơ cấu sẽ là động lực thúc đẩy tăng trưởng, phối hợp các nỗ lực để giảm bớt xung đột thương mại, theo dõi chặt chẽ diễn biến và rủi ro lạm phát, tăng cường các khung khổ ổn định tài chính, tăng cường kỷ luật tài khóa và ổn định trong dài hạn.

Nguồn tham khảo:

IMF, Morgan Stanley, OECD

ThS. Vũ Xuân Thanh

Theo: Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ
    Bài cùng chuyên mục

      Tiêu điểm tuần

      • Ảnh bài viết

        Dự báo giá vàng ngày mai 13/2: Xu hướng tăng mạnh còn tiếp diễn

      • Ngày 11/2: Giá vàng trong nước đi ngang, giá vàng thế giới tiếp tục tăng

      • Thành phố Huế: Đặc sắc tái hiện lễ thiết triều Nguyên đán thời Nguyễn

      • Giá vàng hôm nay 11/02/2026: Vàng nhẫn tiến sát vàng miếng

      • Đâu là trợ lực để thị trường bất động sản Đà Nẵng tăng tốc?

      • Vòng 13 V-League: Thép Xanh Nam Định chạm trán Hồng Lĩnh Hà Tĩnh

      • Khi nào cá nhân được phép hành nghề chứng khoán?

      Lãi suất ngân hàng

      Lãi suất 6 tháng cao nhất: PGBank 7.1%
      Lãi suất 12 tháng cao nhất: PGBank 7.2%
      Ngân hàng1T6T12T
      Ngân hàng An Bình3.66.16.1
      Ngân hàng Á Châu3.54.55.3
      Agribank2.645.2
      Ngân hàng Bắc Á4.556.86.85
      Ngân hàng Bảo Việt3.75.55.8

      Tỷ giá ngoại tệ

      Ngoại tệMuaBán
      USD25.75026.160
      EUR29.919,3831.692
      GBP34.364,436.045,24
      JPY162,74174,15
      CNY3.652,433.831,08
      AUD17.843,1518.715,9
      SGD19.954,0720.971,98
      KRW15,518,8
      CAD18.552,1719.459,6
      CHF32.791,1734.395,07

      Giao dịch hàng hoá

      Hàng hoáGiá%
      Vàng5,046.30+1.98%
      Bạc77.96+3.02%
      Dầu WTI62.89+0.08%
      Dầu Brent67.75+0.34%
      Khí thiên nhiên3.24+0.81%
      Đồng5.80+0.30%
      Cà phê Hoa Kỳ loại C300.05+0.13%
      Cà phê London3,800.00+0.93%
      Than cốc luyện kim Trung Quốc1,633.000.00%
      Xăng RBOB1.91-0.26%
      Banker.vn Logo

      Trang tin tức tài chính - ngân hàng hàng đầu Việt Nam. Cập nhật nhanh chóng, chính xác các thông tin về lãi suất, tỷ giá, chứng khoán và thị trường tài chính.

      Chuyên mục

      • Ngân hàng
      • Thị trường
      • Tài chính
      • Quốc tế
      • Công nghệ
      • Xã hội

      Tin tức

      • Đầu tư
      • Năng lượng
      • FTA
      • Tin ngân hàng
      • Tin chứng khoán

      Công cụ

      • Công cụ tài chính
      • Từ điển thuật ngữ
      • Bảng giá VN30
      • Về chúng tôi
      • Liên hệ quảng cáo
      • Điều khoản sử dụng
      • Chính sách bảo mật

      Liên hệ

      • 16 Văn Cao, P. Liễu Giai,
        Q. Ba Đình, Hà Nội
      • 024.3999.2518
      • info@ubgroup.vn

      Dashboard Ngân hàng

      BIDVBIDVAgribankAgribankVietcombankVietcombankLPBankLPBankXem tất cả

      Đọc tin theo Ngân hàng

      ACBABBankBAC A BANKCBBankCo-opBankDongA BankTPBankTechcombankVietcombankVietinBankBIDVAgribankNAM A BANKSeABankSacombankLienVietPostBankHDBankVPBankNCBVietA BankKienlongbankSCBSHBSaigonbankSBVBAOVIET BankMBMBBankOceanbankGPBankPG BankVIBMSBEximbankPVcomBankVietbankNgân hàng Bản ViệtHSBCShinhan BankStandard CharteredWoori BankCIMB BankPublic BankHong Leong BankUOBANZIVBVRBVDBNgân hàng Chính sách xã hộiNgân hàng Nhà nước

      Đơn vị chủ quản: Công ty Cổ phần Tập đoàn UB

      Giấy phép số 2489/GP-TTĐT do Sở TT&TT TP. Hà Nội cấp ngày 27/08/2020

      ĐKKD số 0106080414 do Sở KH&ĐT TP. Hà Nội cấp ngày 09/01/2013

      Chịu trách nhiệm nội dung: Vũ Việt Hưng

      Mọi hành vi sao chép nội dung cần ghi rõ nguồn Banker.vn

      © 2026 Banker.vn - Bản quyền thuộc về Công ty Cổ phần Tập đoàn UB

      RSS Feed|Thiết kế bởi UB Group