Lịch âmCông cụ tínhDashboardSPECIAL
Tin mớiNgân hàngVN30
Banker.vn - Tin tức Tài chính Ngân hàng
banner
  • Trang chủ
  • Ngân hàng
  • Thị trường
  • Tài chính
  • Quốc tế
  • Công nghệ
  • Xã hội
  • Đầu tư
  • Năng lượng
  • FTA
  • Giá xe
HOT
Banker Logo
Tin mới
Banker Logo
Trang chủ

Tài chính - Ngân hàng

Ngân hàng
Thị trường
Tài chính
Đầu tư

Tin tức

Quốc tế
Công nghệ
Xã hội
Năng lượng
FTA

Tiện ích

Giá xe
Tin mới nhất
Trang chủTài chính Vĩ mô

Khả năng tiếp cận vốn tín dụng và thực trạng phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam

31/01/2026 - 14:0417 phút đọcGoogle News

(Banker.vn) Tóm tắt: Đóng góp của ngành công nghiệp hỗ trợ (CNHT) trong giai đoạn vừa qua có ý nghĩa quan trọng đối với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những khó khăn về thị trường, công nghệ, các doanh nghiệp CNHT còn gặp nhiều khó khăn về vốn và tiếp cận vốn tín dụng. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp từ Tổng cục Thống kê Việt Nam, các nghiên cứu trong và ngoài nước về hoạt động của doanh nghiệp CNHT. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù trong thời gian qua, Chính phủ và các cơ quan, ban, ngành đưa ra khá nhiều chính sách nhằm thúc đẩy phát triển CNHT tại Việt Nam, tuy nhiên việc tiếp cận các nguồn lực tài chính, trong đó có vốn tín dụng của doanh nghiệp CNHT vẫn còn nhiều hạn chế. Thông qua việc đánh giá thực trạng phát triển và tiếp cận nguồn vốn, bài viết đề xuất một số giải pháp thúc đẩy khả năng tiếp cận vốn tín dụng cho các doanh nghiệp ngành CNHT tại Việt Nam trong thời gian tới.

Tóm tắt: Đóng góp của ngành công nghiệp hỗ trợ (CNHT) trong giai đoạn vừa qua có ý nghĩa quan trọng đối với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những khó khăn về thị trường, công nghệ, các doanh nghiệp CNHT còn gặp nhiều khó khăn về vốn và tiếp cận vốn tín dụng. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp từ Tổng cục Thống kê Việt Nam, các nghiên cứu trong và ngoài nước về hoạt động của doanh nghiệp CNHT. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù trong thời gian qua, Chính phủ và các cơ quan, ban, ngành đưa ra khá nhiều chính sách nhằm thúc đẩy phát triển CNHT tại Việt Nam, tuy nhiên việc tiếp cận các nguồn lực tài chính, trong đó có vốn tín dụng của doanh nghiệp CNHT vẫn còn nhiều hạn chế. Thông qua việc đánh giá thực trạng phát triển và tiếp cận nguồn vốn, bài viết đề xuất một số giải pháp thúc đẩy khả năng tiếp cận vốn tín dụng cho các doanh nghiệp ngành CNHT tại Việt Nam trong thời gian tới.

Từ khoá: khả năng tiếp cận, vốn tín dụng, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ.

ACCESS TO CREDIT CAPITAL AND CURRENT STATUS OF SUPPORTING INDUSTRIES IN VIETNAM

Abstract: The contribution of supporting industries in the recent period has been of great important to the national economic restructuring towards industrialization and modernization. However, enterprises in supporting industries still face many difficulties in accessing credit capital. This study uses secondary data from the General Statistics Office of Vietnam, domestic and foreign studies on the operations of supporting industrial enterprises. Research results show that although in the past time, the Government and agencies have issued many policies to promote the development of supporting industries in Vietnam, however access to credit capital of supporting industry enterprises is still limited. Through analyzing the current status of credit capital accessibility, the article proposes some solutions to promote access to credit capital for supporting industry enterprises in Vietnam in the coming time.

Keywords: accessibility, credit capital, supporting industrial enterprises

1. Giới thiệu

Vị thế kinh tế tư nhân Việt Nam ngày càng được cải thiện và trở thành nguồn động lực phát triển kinh tế của đất nước. Doanh nghiệp nhỏ và vừa nói chung hay doanh nghiệp CNHT nói riêng chiếm một vị thế quan trọng trong phát triển kinh tế, giúp tạo ra công ăn việc làm cho nhiều lao động, đóng góp tương đối lớn vào tăng trưởng GDP. Điều này cho thấy ý nghĩa quan trọng của CNHT đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa giúp nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh, tạo giá trị gia tăng, phát triển ngành CNHT là một trong những giải pháp quan trọng nhất để Việt Nam cải thiện chất lượng nền kinh tế, phát triển bền vững, giúp tăng khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đẩy mạnh tiếp nhận, chuyển giao công nghệ, tạo tính lan tỏa mạnh mẽ giúp các doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp FDI và chuỗi giá trị toàn cầu của các tập đoàn đa quốc gia. Trong giai đoạn vừa qua, Chính phủ và cơ quan ban ngành liên quan đã ban hành một số chính sách giúp thúc đẩy phát triển ngành CNHT, tuy nhiên việc tiếp cận chính sách, tiếp cận thông tin, tiếp cận nguồn lực tài chính còn gặp nhiều khó khăn, trong đó khó khăn trong việc tiếp cận nguồn lực tài chính là rào cản lớn đối với sự ổn định và phát triển của doanh nghiệp CNHT, làm cho họ chưa được đặt chân vào những khâu sản xuất có giá trị gia tăng cao trong chuỗi cung ứng, khiến doanh nghiệp CNHT khó phát triển mạnh.

2. Thực trạng phát triển và các chính sách vốn tín dụng cho doanh nghiệp CNHT

2.1 Kết quả đạt được

NHNN đã ban hành Thông tư số 39/2016/TT-NHNN (Ngân hàng Nhà nước, 2016), trong đó quy định khách hàng hoạt động trong lĩnh vực CNHT được TCTD xem xét, quyết định cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam với lãi suất không vượt quá mức lãi suất cho vay tối đa do Thống đốc NHNN quyết định trong từng thời kỳ. Theo Nghị định 115/2015/NĐ-CP ngày 3/11/2015 về phát triển công nghiệp hỗ trợ, Nghị định 88/2023/NĐ-CP ngày 29/8/2023 bổ sung một số điều của Nghị định 111/2015 về phát triển CNHT bổ sung chính sách cấp bù lãi suất cho doanh nghiệp CNHT vay vốn, thì CNHT là các ngành công nghiệp sản xuất nguyên liệu, vật liệu, linh kiện và phụ tùng để cung cấp cho sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh. Ngoài ra, theo số liệu từ Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương), hiện cả nước có khoảng 5.000 doanh nghiệp CNHT tham gia sản xuất cung cấp linh kiện phụ tùng cho nhóm ngành hàng ô tô, điện tử, cơ khí, dệt may, da giày. Trong đó, 70% doanh nghiệp tham gia cung cấp cho các nhà sản xuất trong nước, 8% cung cấp cho nhà xuất khẩu và 17% tham gia cung cấp cho cả hai. Như vậy, khoảng 30% doanh nghiệp CNHT đã tham gia chuỗi cung ứng, giá trị toàn cầu. Trong ngành dệt may, da giầy, 64% doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ cung cấp cho thị trường trong nước (trong đó 3% cung cấp cho do-anh nghiệp FDI), 9% xuất khẩu và 27% cung cấp cho cả hai thị trường; trong ngành cao su, nhựa, hóa chất, số doanh nghiệp cung cấp cho thị trường trong nước chiếm 52% và hoàn toàn cho xuất khẩu là 4%, 44% còn lại cung cấp cho cả hai thị trường; trong lĩnh vực điện tử có 44% doanh nghiệp cung cấp cho thị trường trong nước (trong đó 22% cung cấp hoàn toàn cho FDI), 16% cung cấp cho thị trường xuất khẩu và 40% số doanh nghiệp CNHT của ngành cung cấp cho cả thị trường trong nước và xuất khẩu. Ngành cơ khí, ô tô, 83% doanh nghiệp hoàn toàn cung cấp cho thị trường nội địa, chỉ có 3% doanh nghiệp có doanh thu hoàn toàn từ xuất khẩu và 14% doanh nghiệp có doanh thu từ cả hai thị trường.

Về vị trí địa lý, các doanh nghiệp tập trung phần lớn tại đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ. Về lĩnh vực hoạt động, ngành cơ khí và dệt may, da giày có số lượng doanh nghiệp CNHT nhiều hơn so với các ngành khác. Xét về quy mô, 88% doanh nghiệp CNHT là doanh nghiệp nhỏ và vừa (có 300 lao động trở xuống). Số lượng các doanh nghiệp CNHT phân theo ngành, vùng, thành phần kinh tế và quy mô lao động được tổng hợp trong các bảng 1, 2, 3.

Bảng 1: Số lượng các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ theo ngành, vùng

margin: 15px auto;" />
(Nguồn: Tổng cục thống kê, 2020)

Bảng 2: Số lượng các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ
theo ngành và thành phần kinh tế

(Nguồn: Tổng cục thống kê, 2020)

Bảng 3: Số lượng các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ theo ngành và quy mô doanh nghiệp

(Nguồn: Tổng cục thống kê, 2020)

Sản phẩm CNHT chuyên ngành cơ khí cung cấp là các loại chi tiết, linh kiện, cụm linh kiện kim loại cho các ngành hạ nguồn. Theo đánh giá của giới chuyên gia, đây là lĩnh vực phát triển, cung cấp sản phẩm tương đối hiệu quả với các lĩnh vực khác của CNHT. Hiện nay, Việt Nam có trên 500 doanh nghiệp (DN) sản xuất các loại linh kiện kim loại cung ứng cho các ngành hạ nguồn, sử dụng tỷ lệ rất nhỏ trong số hơn 7.000 DN cơ khí của cả nước. Thị trường chính của các DN trong ngành là các lĩnh vực sản xuất xe máy, máy móc công-nông nghiệp, ô tô. Linh kiện kim loại trong nước hiện đã đáp ứng được 85- 90% nhu cầu cho sản xuất xe máy; khoảng 15- 40% nhu cầu linh kiện cho sản xuất ô tô (chủ loại xe), khoảng 20% cho sản xuất thiết bị đồng bộ và 40 - 60% cho sản xuất các loại máy nông nghiệp, máy động lực và 40% cho máy xây dựng. Cung ứng kim loại cho các ngành công nghiệp công nghệ cao đáp ứng khoảng 10% theo nhu cầu. Cơ khí chế tạo trong nước hiện nay cũng đã sản xuất, lắp ráp được hầu hết các chủng loại xe ô tô, xe tải, xe khách; sản xuất xe máy đã có tỷ lệ nội địa hóa 85-95%, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Trong đó, phải kể đến một số DN điển hình trong lĩnh vực ô tô như: Vin-Fast, Hyundai, Thành Công, Thaco. Đáng lưu ý, chỉ trong vòng 21 tháng, VinFast đã đưa ra thị trường ô tô mang thương hiệu Việt Nam; hay như Thaco, từ cuối năm 2019 đến nay đã xuất khẩu xe buýt.

Nhựa là một trong những ngành công nghiệp có mức tăng trưởng cao nhất tại Việt Nam. Hiện có khoảng 2.000 DN tham gia ngành này, chủ yếu tập trung ở TP. Hồ Chí Minh. Các DN trong nước chiếm 85%, DN nước ngoài tuy chỉ chiếm 15% về số lượng nhưng chiếm đến 40% về vốn đầu tư. Các sản phẩm nhựa Việt Nam được chia làm 4 nhóm chính: nhựa bao bì, nhựa gia dụng, nhựa vật liệu xây dựng và nhựa kỹ thuật. Theo thông tin từ Bộ Tài nguyên và Môi trường, tại Việt Nam, nguồn nguyên liệu nhựa thải ra tới gần 18.000 tấn/ngày, giá sản phẩm rất thấp. Do đó, hạt nhựa tái chế từ chất thải nhựa sinh hoạt có giá thấp hơn nhiều so với hạt nhựa nguyên sinh. Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm nhựa theo thống kê tăng trung bình 20%/năm. Điều này cho thấy tiềm năng phát triển ngành nhựa tái chế rất lớn.

Việt Nam hiện đang xếp thứ 9 toàn cầu về xuất khẩu hàng điện tử. Ngành thiết kế và chế tạo mạch đang trở thành ngành công nghệ hấp dẫn tại Việt Nam, thu hút nguồn vốn FDI của các tập đoàn công nghệ lớn như Samsung, Amkor Technology Inc, Hana Micron (Hàn Quốc); Intel, Synopsys, Qorvo (Hoa Kỳ)...

Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng hiện là nhóm hàng xuất khẩu lớn thứ 3 của Việt Nam (chỉ sau điện thoại và máy vi tính). Thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy, trong giai đoạn 2010- 2021, xuất khẩu máy móc thiết bị của Việt Nam liên tục tăng trưởng với tốc độ tăng trung bình đạt 28,3%/năm (mức tăng trưởng mạnh nhất) vào năm 2020 đạt 48,58%). Năm 2022, tổng kim ngạch xuất khẩu máy móc thiết bị của Việt Nam ước đạt 45,8 tỷ USD, tăng 19,45% so với năm 2021. Đây là mức kim ngạch cao nhất trong 10 năm trở lại đây, cao gấp gần 15 lần so với năm 2010.

Biểu đồ 1: Kim ngạch xuất khẩu máy móc, thiết bị của Việt Nam giai đoạn 2010-2022 (ĐVT: tỷ USD)

(Nguồn: Tổng cục Hải quan, 2023

Biểu đồ 2: Trị giá xuất khẩu của một số nhóm hàng lớn lũy kế từ 01/01/2023 đến 15/10/2023 và cùng kỳ năm 2022

(Nguồn: Tổng cục Hải quan, 2023)

Tính đến hết ngày 15/10/2023, tổng trị giá xuất khẩu của Việt Nam đạt 272,75 tỷ USD, giảm 8,1% tương ứng giảm 24,07 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2022, cao nhất là điện thoại các loại và linh kiện và thấp nhất là máy ảnh, máy quay phim và linh kiện.

Biểu đồ 3: Xuất khẩu điện thoại và linh kiện điện thoại của Việt Nam (ĐVT: triệu USD)

(Nguồn: Tổng cục Hải quan, 2023)

Theo số liệu thống kê sơ bộ, trong tháng 12/2022, xuất khẩu điện thoại di động và linh kiện của Việt Nam đạt khoảng 5,06 tỷ USD, giảm 4,51% so với tháng 11/2022 và giảm 9,63% so với tháng 12/2021. Tính chung năm 2022, tổng kim ngạch xuất khẩu điện thoại và linh kiện của cả nước ước đạt 60,73 tỷ USD, tăng 5,55% so với năm 2021.

Bảng 4: Chỉ số sản xuất công nghiệp hỗ trợ 10 tháng đầu năm 2023

(Nguồn: tổng cục thống kê, 2023)

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 12/2023 ước tăng 0,1% so với tháng trước và tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 12 tháng năm 2023, ước tính tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2022 tăng 8,9%), trong đó sản xuất cấu kiện kinh loại tăng cao nhất với giá trị là 13,7%.

Như vậy, không chỉ gia tăng về số lượng, chất lượng các doanh nghiệp CNHT của Việt Nam những năm qua cũng không ngừng tăng lên. Có nhiều doanh nghiệp trong nước đã chủ động đầu tư công nghệ, nâng cao nguồn chất lượng lao động để đáp ứng yêu cầu của các tập đoàn, doanh nghiệp lớn ngoài nước như đối tác sản xuất linh, phụ kiện cho doanh nghiệp Hàn Quốc và Nhật Bản, còn tại Việt Nam cũng đang sản xuất linh, phụ kiện cho các doanh nghiệp như VinFast và một số linh kiện cho Tập đoàn Viettel. Ở quy mô cả nước, đến giữa tháng 8/2023, Bộ Công Thương cũng có đề xuất quan trọng liên quan đến ưu đãi lãi suất đối với lĩnh vực CNHT. Trong đó, tài liệu hướng dẫn sửa đổi Nghị định số 111/2015/NĐ-CP về quy định chính sách phát triển CNHT của Chính phủ (2015) được Bộ này đề xuất là ngân sách Trung ương hỗ trợ cấp bù lãi suất thông qua hệ thống ngân hàng thương mại đối với các khoản vay trung và dài hạn của doanh nghiệp. Mức cấp bù chênh lệch lãi suất được đề xuất là 3%/năm. Thời gian hỗ trợ tối đa là 10 năm và thực hiện đến hết năm 2030.

Hỗ trợ phát triển ngành công nghiệp là một trong 5 nhóm ngành ưu tiên của Chính phủ trong việc phát triển nền kinh tế. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành nhiều chính sách và chỉ đạo các TCTD đảm bảo bố trí vốn cho các lĩnh vực ưu tiên (doanh nghiệp nhỏ và vừa; xuất khẩu; lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; CNHT và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao) với lãi suất thấp hơn các lĩnh vực khác. Lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VNĐ đối với nhóm lĩnh vực này được NHNN công bố theo từng giai đoạn. Hiện, lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VNĐ so với một số lĩnh vực kinh tế ngành chỉ là 4%/năm.

Nguồn cung cấp tín dụng ưu đãi lãi suất cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực CNHT sẽ tiếp tục mở rộng và dồi dào hơn. Các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn đầu tư, kết nối chuỗi cung ứng hàng hóa, ngoài việc có thể tiếp cận khoản vay ưu đãi theo chương trình tín dụng dành riêng cho 5 nhóm lĩnh vực ưu tiên sẽ có nhiều lựa chọn hơn để tiếp theo vay vốn lãi suất thấp từ các chương trình kích cầu đầu tư của một số địa phương, hay vay vốn theo chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp và các gói tín dụng ưu đãi đặc thù của TCTD.

Để hỗ trợ doanh nghiệp CNHT, bên cạnh hoạt động tư vấn cho Chính phủ về hoàn thiện chính sách CNHT, thời gian qua Bộ Công Thương cũng đã có các chương trình hỗ trợ kết nối doanh nghiệp CNHT trong nước với một số tập đoàn lớn tại Việt Nam. Điển hình như phối hợp với Tập đoàn Samsung (Hàn Quốc) phát triển chương trình tư vấn cải tiến, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp CNHT trong nước.

Tín dụng ngân hàng dành cho nhóm lĩnh vực ưu tiên ở các tỉnh, thành phố được đầu tư đáng kể. Tính đến cuối tháng 7/2023, dư nợ cho vay theo chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp trên địa bàn TP. Hà Nội chiếm 19,38% trong tổng dư nợ cho vay nền kinh tế; cho vay đối với do-anh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 19,14%; chương trình nông nghiệp, nông thôn chiếm 9,03%; cho vay xuất khẩu chiếm 5,20%; cho vay CNHT chiếm 2,36%; cho vay doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao chiếm 0,37%; cho vay chính sách xã hội chiếm 0,48%. Trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh đã giải ngân cho vay khoảng 2.100 tỷ đồng cho nhóm doanh nghiệp thuộc lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ. Theo số liệu thống kê của các TCTD tỉnh Đồng Tháp đến cuối tháng 8/2023, dư nợ cho vay 5 nhóm lĩnh vực ưu tiên (trong đó có công nghiệp hỗ trợ) là khoảng 80.600 tỷ đồng. Trong khi đó, tại Bình Thuận dư nợ cho vay các nhóm lĩnh vực ưu tiên chiếm tới trên 70% tổng dư nợ. Các doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp CNHT cũng đã vay khoảng 15.000 tỷ đồng vốn ưu đãi lãi suất trong 7 tháng đầu năm 2023. Tại Quảng Nam, kết quả dư nợ cho vay đến ngày 31/7/2023 của một số chương trình cho vay ưu tiên như cho vay nông nghiệp, nông thôn đạt 25.500 tỷ đồng, chiếm 23,91% trong tổng dư nợ (tăng 0,62% so với đầu năm); cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 17.250 tỷ đồng, chiếm 16,17% trong tổng dư nợ (tăng hơn 3% so với đầu năm); cho vay CNHT đạt 5.550 tỷ đồng, chiếm 5,2% trong tổng dư nợ (tăng hơn 33,5% so với đầu năm); cho vay xuất khẩu đạt 1.205 tỷ đồng, chiếm 1,13% so với tổng dư nợ (tăng hơn 19% so với đầu năm); tín dụng chính sách đạt 6.970 tỷ đồng, chiếm 6,53% trong tổng dư nợ (tăng hơn 8% so với đầu năm).

Theo Vụ Tín dụng các ngành kinh tế - NHNN, đến ngày 31/7/2023, tín dụng đối với lĩnh vực xuất khẩu tăng khoảng 14,09%; tín dụng đối với lĩnh vực CNHT tăng trên 13%; tín dụng doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng trên 16%. Đến ngày 31/8/2023, tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn tăng 4,37%, chiếm 24,48% dư nợ nền kinh tế; tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 4,88%, chiếm 18,39%

2.2 Tồn tại

Trong khi CNHT là một lĩnh vực quan trọng thì Việt Nam vẫn chưa có một bộ Luật về ngành công nghiệp hỗ trợ. Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến CNHT mới chỉ dừng ở cấp Nghị định, Thông tư. Theo đó, chính sách phát triển doanh nghiệp hỗ trợ có, nhưng chưa tạo được hành lang pháp lý đủ tốt cho doanh nghiệp phát triển.

Mặc dù Chính phủ ban hành nhiều chính sách phát triển CNHT, như: Nghị định 111/2015/NĐ-CP về phát triển CNHT, Nghị quyết 115/2020/NQ-CP về giải pháp thúc đẩy phát triển CNHT, Nghị định 88/2023/NĐ-CP của Chính phủ bổ sung một số điều của Nghị định 111/2015 về phát triển CNHT bổ sung chính sách cấp bù lãi suất cho doanh nghiệp CNHT vay vốn, tuy nhiên việc triển khai gói hỗ trợ cũng như khả năng tiếp cận nguồn vốn ưu đãi còn nhiều khó khăn, thực thi trong thực tế vẫn còn nhiều bất cập.

Việc tiếp cận các hoạt động về CNHT như hoạt động trợ giúp của cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức, cá nhân về CNHT, đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu và phát triển, hỗ trợ chuyển giao công nghệ sản xuất sản phẩm CNHT, hợp tác quốc tế, phát triển thị trường; đầu tư dự án phát triển CNHT; cung ứng dịch vụ phát triển CNHT gặp nhiều trở ngại, đặc biệt các chính sách ưu đãi đối với CNHT về vốn tín dụng ngân hàng của các doanh nghiệp gặp nhiều rào cản như không đủ khả năng đáp ứng điều kiện về tài sản bảo đảm, chi phí lãi suất và chi phí vay vốn không chính thức cao, thiếu dự án, phương án sản xuất kinh doanh khả thi, hạn chế về khả năng quản trị, kiểm soát rủi ro của chủ doanh nghiệp, thủ tục vay vốn phức tạp… trong đó, việc tiếp cận các nguồn vốn vay lãi suất thấp, nguồn vốn vay ưu đãi đối với họ là rất khó khăn.

Ngoài ra, chính sách tín dụng ưu đãi chỉ áp dụng cho nhu cầu vốn ngắn hạn, phạm vi ưu đãi hẹp; chưa kể, rất ít doanh nghiệp được cấp chứng nhận thuộc đối tượng CNHT ưu tiên phát triển.

Hơn nữa, hệ thống NHTM đứng trước áp lực hội nhập quốc tế, phải nâng cao chất lượng hoạt động, áp dụng nhiều tiêu chuẩn quản trị rủi ro theo thông lệ quốc tế, việc thực hiện hỗ trợ nguồn vốn tín dụng cho doanh nghiệp CNHT với điều kiện tín dụng ưu đãi, dễ dàng ngày càng khó thực hiện. Trong khi đó, các kênh huy động vốn trung, dài hạn qua thị trường trái phiếu chưa phát huy hiệu quả.

Thời gian qua, dù Việt Nam đã chủ động mở cửa để đón nhận nhiều doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo nhưng ngành CNHT vẫn chỉ dừng lại ở việc cung cấp ốc vít, khuôn nhựa, linh kiện phụ tùng... cho các đối tác nước ngoài. Đáng nói, ngành CNHT chưa thực sự phát huy hết tiềm năng, khi tham gia lĩnh vực này phần lớn là doanh nghiệp nhỏ và vừa nên gặp rất nhiều khó khăn về thị trường, công nghệ, nguồn nhân lực, vốn… sản phẩm CNHT trong nước còn đơn giản, hàm lượng công nghệ trung bình và thấp, có giá trị nhỏ trong cơ cấu giá trị sản phẩm, tỷ lệ nội địa hóa thấp nên khối lượng linh kiện nhập khẩu hằng năm về Việt Nam lắp ráp, chế tạo, sản xuất để xuất khẩu lên đến hàng chục tỷ USD. Hơn nữa, các doanh nghiệp CNHT còn thiếu nguồn lực để đổi mới. Năng lực cung cấp linh kiện và phụ tùng có hàm lượng công nghệ cao, kỹ thuật phức tạp chưa đáp ứng các yêu cầu để tham gia sâu vào chuỗi sản xuất toàn cầu.

Mặc dù có sự tăng trưởng tích cực cả về số lượng và chất lượng, nhưng nếu so với Thái Lan, số lượng doanh nghiệp CNHT của Việt Nam làm nhà cung cấp cấp 1 cho các tập đoàn lớn chỉ bằng 1/7 và số doanh nghiệp Việt Nam là nhà cung cấp cấp 2, cấp 3 cho các tập đoàn lớn chỉ bằng 1/10 của quốc gia này.

3. Giải pháp

- Nhà nước cần nghiên cứu, xem xét ban hành thêm các chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp ngành CNHT như cung cấp nguồn vốn với chi phí thấp, giảm thuế, hoãn thuế… đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu, các giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính.

- Cơ quan chức năng hỗ trợ doanh nghiệp về tiếp cận đất đai, mặt bằng nhà xưởng và tiếp cận vốn cho sản xuất kinh doanh. Bởi CNHT là một ngành đòi hỏi số vốn lớn, khả năng thu hồi vốn chậm hơn so với các lĩnh vực khác, nên nếu không có sự hỗ trợ của nhà nước thì sẽ không có nhiều doanh nghiệp “mặn mà” đầu tư vào lĩnh vực này.

- Các TCTD ban hành nhiều chính sách cho vay cũng như cung cấp các nguồn vốn tín dụng với chi phí hợp lý nhằm tăng cường khả năng tiếp cận nguồn vốn, đảm bảo cho doanh nghiệp CNHT phát triển ổn định, bền vững đáp ứng các yêu cầu để tham gia sâu vào chuỗi sản xuất toàn cầu.

- Các doanh nghiệp CNHT cần tăng cường khả năng quản trị, kiểm soát tốt rủi ro, minh bạch thông tin để tăng khả năng tiếp cận các nguồn tài chính.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

- Chính phủ. (2015). Nghị định số 111/2015/NĐ-CP ngày 03/11/2015 của Chính phủ về phát triển công nghiệp hỗ trợ.

- Chính phủ. (2020). Nghị quyết số 115/NQ-CP ngày 06/8/2020 của Chính phủ về các giải pháp thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ.

- Chính phủ. (2021). Nghị định 81/2021/NĐ-CP ngày 26/8/2021 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

- Chính phủ. (2023). Nghị định số 88/2023/NĐ-CP ngày 29/8/2023 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 111/2015/NĐ-CP về phát triển công nghiệp hỗ trợ.

- Ngân hàng Nhà nước. (2016). Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2026 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

- Tổng cục Thống kê (2023). #

- Tổng cục Thống kê (2023). #

- Trung tâm thông tin công nghiệp và thương mại – Bộ công thương (2022). Bản tin công nghiệp hỗ trợ số 24.

- Báo Công thương (2023). Doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ mong có thêm thị trường. #

- Châu Nữ (2023). Tích cực hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận các khoản vay. #

- Thảo Nguyên (2023). Hà Nội đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp. #

- Thời báo ngân hàng (2023). Ngân hàng hợp sức phát triển công nghiệp hỗ trợ. #

- Hà Trang (2023). Nâng cao hiệu quả tiếp cận vốn cho doanh nghiệp và tăng khả năng hấp thụ vốn cho nền kinh tế. #

Bài đã đăng trên Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ số 4 năm 2024

TS. Vũ Cẩm Nhung, ThS. Lưu Phước Vẹn, ThS. Phan Minh Xuân

Theo: Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ
    Bài cùng chuyên mục

      Tiêu điểm tuần

      • Ảnh bài viết

        Thương mại điện tử thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa Việt Nam

      • Tổng Bí thư: Cao Bằng sẽ biến lợi thế đặc thù thành động lực phát triển thực chất

      • XSKH 28/1, kết quả xổ số Khánh Hòa hôm nay 28/1/2026, KQXSKH 28/1

      • Sẵn sàng cho lễ ra mắt Trung tâm trọng tài quốc tế thuộc Trung tâm tài chính quốc tế

      • Sau cú hích từ Nghị quyết 79, lộ diện nhiều nhóm ngành sáng cửa hút mạnh dòng tiền trong năm 2026

      • Flagship Samsung từng gần 35 triệu nay rớt giá mạnh, AI và camera vẫn thuộc top đầu thị trường

      • Giá tiêu hôm nay 25/1/2026: Tăng hai ngày liên tiếp, chạm mốc 150.000 đồng/kg

      Lãi suất ngân hàng

      Lãi suất 6 tháng cao nhất: PGBank 7.1%
      Lãi suất 12 tháng cao nhất: PGBank 7.2%
      Ngân hàng1T6T12T
      Ngân hàng An Bình3.86.36.3
      Ngân hàng Á Châu3.54.55.3
      Agribank2.645.2
      Ngân hàng Bắc Á4.556.86.85
      Ngân hàng Bảo Việt3.75.55.8

      Tỷ giá ngoại tệ

      Ngoại tệMuaBán
      USD25.72026.110
      EUR30.066,731.652,51
      GBP34.680,336.153,25
      JPY162,25172,56
      CNY3.634,663.789,04
      AUD17.605,4418.353,19
      SGD19.896,7220.783,32
      KRW15,5118,7
      CAD18.649,4219.441,5
      CHF32.824,8134.218,96

      Giao dịch hàng hoá

      Hàng hoáGiá%
      Vàng4,763.10-11.39%
      Bạc78.83-31.37%
      Dầu WTI65.21-0.32%
      Dầu Brent69.82+0.33%
      Khí thiên nhiên4.35+11.13%
      Đồng5.95-4.51%
      Cà phê Hoa Kỳ loại C333.40-3.50%
      Cà phê London4,106.00+2.75%
      Than cốc luyện kim Trung Quốc1,633.000.00%
      Xăng RBOB1.95+0.66%
      Banker.vn Logo

      Trang tin tức tài chính - ngân hàng hàng đầu Việt Nam. Cập nhật nhanh chóng, chính xác các thông tin về lãi suất, tỷ giá, chứng khoán và thị trường tài chính.

      Chuyên mục

      • Ngân hàng
      • Thị trường
      • Tài chính
      • Quốc tế
      • Công nghệ
      • Xã hội

      Tin tức

      • Đầu tư
      • Năng lượng
      • FTA
      • Tin ngân hàng
      • Tin chứng khoán

      Công cụ

      • Công cụ tài chính
      • Từ điển thuật ngữ
      • Bảng giá VN30
      • Về chúng tôi
      • Liên hệ quảng cáo
      • Điều khoản sử dụng
      • Chính sách bảo mật

      Liên hệ

      • 16 Văn Cao, P. Liễu Giai,
        Q. Ba Đình, Hà Nội
      • 024.3999.2518
      • info@ubgroup.vn

      Dashboard Ngân hàng

      BIDVBIDVAgribankAgribankVietcombankVietcombankLPBankLPBankXem tất cả

      Đọc tin theo Ngân hàng

      ACBABBankBAC A BANKCBBankCo-opBankDongA BankTPBankTechcombankVietcombankVietinBankBIDVAgribankNAM A BANKSeABankSacombankLienVietPostBankHDBankVPBankNCBVietA BankKienlongbankSCBSHBSaigonbankSBVBAOVIET BankMBMBBankOceanbankGPBankPG BankVIBMSBEximbankPVcomBankVietbankNgân hàng Bản ViệtHSBCShinhan BankStandard CharteredWoori BankCIMB BankPublic BankHong Leong BankUOBANZIVBVRBVDBNgân hàng Chính sách xã hộiNgân hàng Nhà nước

      Đơn vị chủ quản: Công ty Cổ phần Tập đoàn UB

      Giấy phép số 2489/GP-TTĐT do Sở TT&TT TP. Hà Nội cấp ngày 27/08/2020

      ĐKKD số 0106080414 do Sở KH&ĐT TP. Hà Nội cấp ngày 09/01/2013

      Chịu trách nhiệm nội dung: Vũ Việt Hưng

      Mọi hành vi sao chép nội dung cần ghi rõ nguồn Banker.vn

      © 2026 Banker.vn - Bản quyền thuộc về Công ty Cổ phần Tập đoàn UB

      RSS Feed|Thiết kế bởi UB Group