Dấu ấn các kỳ đại hội toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam - Kỳ VI: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986): Khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước
(Banker.vn) Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng diễn ra tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 15 - 18/12/1986. Dự Đại hội có 1.129 đại biểu thay mặt cho gần 1,9 triệu đảng viên trong toàn Đảng.
Sau Đại hội V, mặc dù Đảng và Nhân dân ta có nhiều nỗ lực nhưng mục tiêu do Đại hội đề ra là cơ bản ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống của Nhân dân chưa thực hiện được. Đời sống kinh tế - xã hội đất nước ở trong tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Tình hình thế giới có những biến đổi căn bản, to lớn, sâu sắc và rất phức tạp: khoa học, công nghệ, xu thế toàn cầu hoá phát triển mạnh mẽ; chiến tranh lạnh đi vào giai đoạn kết thúc, hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển trở thành một xu thế lớn. Trong khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu lâm vào khủng hoảng nhiều mặt, thì công cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc đạt được những kết quả tích cực.
Cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trong nước, sự biến đổi của tình hình thế giới và khu vực đã đặt ra yêu cầu khách quan, cấp bách phải đổi mới đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội để đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, tiếp tục quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
margin: 15px auto;" />Trong bối cảnh đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng diễn ra tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 15 - 18/12/1986. Dự Đại hội có 1.129 đại biểu thay mặt cho gần 1,9 triệu đảng viên trong toàn Đảng.
Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, Đại hội đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, khẳng định những thành tựu đạt được, đồng thời, chỉ rõ hạn chế, yếu kém, những khó khăn gay gắt của đời sống kinh tế - xã hội đang ở mức độ khủng hoảng nghiêm trọng. Đại hội chỉ rõ nguyên nhân của những hạn chế nói trên là do Đảng mắc phải “những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài”[17] về chủ trương, chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện, nhất là trên lĩnh vực kinh tế. Những sai lầm đó có nguồn gốc từ bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội, chạy theo nguyện vọng chủ quan.
Đại hội tổng kết 4 bài học lớn, trong đó nhấn mạnh bài học “lấy dân làm gốc”, bài học về xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan,…
Đại hội xác định: “nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo”[18].
Để đạt được những mục tiêu đã xác định, Đại hội đề ra đường lối đổi mới với những nội dung sau:
- Đổi mới cơ cấu kinh tế: sắp xếp lại nền kinh tế, bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư, tập trung “thực hiện cho được ba chương trình mục tiêu về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu”[19]; có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế ngoài kinh tế xã hội chủ nghĩa; phát triển kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo.
- Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế: kiên quyết xoá bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp, xây dựng “cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ”[20]; kết hợp kế hoạch hóa với thị trường, từng bước đưa nền kinh vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Nền kinh tế phải được quản lý bằng các biện pháp kinh tế là chủ yếu. Các đơn vị kinh tế quốc doanh và tập thể có quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh, tự chủ về tài chính; phải “phân biệt rõ chức năng quản lý hành chính - kinh tế của các cơ quan nhà nước trung ương và địa phương với chức năng quản lý sản xuất - kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở”[21].
- Đổi mới, thực hiện đồng bộ và hiệu quả các chính sách xã hội: Ban hành các chính sách xã hội cơ bản, lâu dài và xác định những nhiệm vụ, mục tiêu phù hợp với yêu cầu và khả năng trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ. Chú trọng phát huy yếu tố con người và lấy việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất.
Đổi mới chính sách đối ngoại, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại. Phát triển và củng cố mối quan hệ đặc biệt giữa ba nước Đông Dương; tiến tới bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc; mở rộng hợp tác đầu tư với nước ngoài thông qua việc công bố chính sách khuyến khích đầu tư dưới nhiều hình thức, nhất là đối với các ngành và cơ sở đòi hỏi kỹ thuật cao, làm hàng xuất khẩu; tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài và Việt kiều hợp tác kinh doanh tại Việt Nam.
Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng. Đảng phải đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; nâng cao nhận thức lý luận, vận dụng đúng qui luật khách quan, khắc phục bệnh chủ quan, duy ý chí hoặc bảo thủ trì trệ, quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”; đổi mới tổ chức, đội ngũ cán bộ, đánh giá cán bộ phải lấy hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị làm thước đo; đổi mới phong cách làm việc, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, tiến hành sửa đổi cải cách lề lối làm việc, đi sâu đi sát thực tế, nâng cao sức chiến đấu của tổ chức cơ sở, tăng cường đoàn kết nhất trí trong Đảng. Đại hội quyết định bổ sung và sửa đổi một số điểm cụ thể trong Điều lệ Đảng cho phù hợp với tình hình mới.
Đại hội lần thứ VI của Đảng bầu Ban Chấp hành Trung ương mới gồm 124 ủy viên chính thức và 49 ủy viên dự khuyết. Hội nghị Trung ương lần thứ nhất bầu Bộ Chính trị gồm 13 ủy viên chính thức và 1 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Đại hội VI của Đảng có một ý nghĩa lịch sử trọng đại, đánh dấu bước ngoặt trong tiến trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội của nước ta. Đại hội đã tìm ra lối thoát cho cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng kéo dài, đồng thời, đặt nền tảng căn bản để Đảng bổ sung, phát triển mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đường lối đổi mới do Đại hội đề ra là sự kết tinh trí tuệ, tư duy khoa học của Đảng và toàn dân, thể hiện quyết tâm và tinh thần trách nhiệm rất cao của Đảng trước đất nước và dân tộc. Đường lối đổi mới đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, đưa đến luồng sinh khí mới trong xã hội, làm xoay chuyển tình hình, đưa đất nước tiến lên.
(17) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t. 47, tr.360.
(18) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t.47, tr.376.
(19) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t.47, tr.381
(20) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t.47, tr.398-399
(21) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t.47, tr.398.
Mời theo dõi Kỳ VII: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991): Đẩy mạnh công cuộc đổi mới, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tiến theo con đường xã hội chủ nghĩa

