(Banker.vn) Năm 2025, trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động, xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực, lần đầu tiên vượt mốc 70 tỷ USD, vượt xa mục tiêu 65 tỷ USD.
Xác lập kỷ lục mới
Thông tin tại Họp báo thường kỳ Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT), Thứ trưởng Bộ NN&MT Phùng Đức Tiến cho biết, trong bối cảnh năm 2025, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức; Trong nước thiên tai, thời tiết cực đoan diễn biến bất thường, gây thiệt hại lớn về người, tài sản và tình hình sản xuất nông nghiệp, ngành NN&MT đã đạt và vượt 9 chỉ tiêu được giao, trong đó ấn tượng nhất là xuất khẩu.
Theo đó, năm 2025, xuất khẩu nông lâm thủy sản lập kỷ lục mới với 70,09 tỷ USD, đạt giá trị cao nhất từ trước tới nay, gấp khoảng 70 lần so với thời kỳ trước đổi mới, với tốc độ tăng trưởng bình quân 10%-12%/năm.
Thông tin cụ thể, ông Trần Gia Long, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch- Tài chính (Bộ NN&MT) cho biết, trong kim ngạch xuất khẩu 70,09 tỷ USD, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản đạt 37,25 tỷ USD, tăng 13,7%; chăn nuôi đạt 627,8 triệu USD, tăng 17,4%; thủy sản đạt 11,32 tỷ USD, tăng 12,7%; lâm sản đạt 18,5 tỷ USD, tăng 6,6%; đầu vào sản xuất đạt 2,38 tỷ USD, tăng 27,1%; muối đạt 12,1 triệu USD, tăng 84,9%.
margin: 15px auto;" />Đáng chú ý, nông sản Việt Nam tiếp tục duy trì 10 nhóm hàng xuất khẩu trên 1 tỷ USD, đặc biệt có 3 nhóm hàng đạt trên 8 tỷ USD (Sản phẩm gỗ đạt 17,3 tỷ USD tăng 6,4%; Cà phê đạt 8,5 tỷ USD tăng 52,5%; Rau quả đạt 8,6 tỷ USD tăng 19,8%).
“Có những thời điểm, nhất là khi mưa bão xảy ra, việc tiêu thụ và xuất khẩu nông sản gặp nhiều khó khăn, hàng hóa ùn ứ tại khu vực biên giới. Kim ngạch xuất khẩu 11 tháng đầu năm chỉ đạt khoảng 5,85 tỷ USD đến 5,9 tỷ USD mỗi tháng, khiến không ít ý kiến lo ngại mục tiêu cả năm khó hoàn thành. Tuy nhiên, đến tháng 12/2025, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 6,21 tỷ USD, tạo cú bứt phá quan trọng, đưa tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm lên 70,09 tỷ USD, tăng 12% so với năm trước và vượt xa mục tiêu đề ra”.
Thứ trưởng Bộ NN&MT Phùng Đức Tiến
Về thị trường xuất khẩu, xét theo vùng lãnh thổ, hiện châu Á là thị trường xuất khẩu lớn nhất của các mặt hàng nông lâm thủy sản của Việt Nam với thị phần chiếm 45,2%. 2 thị trường lớn tiếp theo là châu Mỹ và châu Âu với thị phần lần lượt là 22,8% và 13,2%. Thị phần của 2 khu vực châu Phi và châu Đại Dương nhỏ, chiếm lần lượt 2,7% và 1,4%. So với năm trước, ước giá trị xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam cả năm 2025 sang khu vực châu Á tăng 5,8%; châu Mỹ tăng 7,2%; châu Âu tăng 34,2%; châu Phi tăng 68,1%; và châu Đại Dương tăng 9%.
Xét theo thị trường chi tiết, Trung Quốc với thị phần 22,3%, Hoa Kỳ với thị phần 20,6% và Nhật Bản với thị phần 7,1%, là 3 thị trường xuất khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản lớn nhất của Việt Nam. So với năm trước, ước giá trị xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam cả năm 2025 sang thị trường Trung Quốc tăng 15,9%, Hoa Kỳ tăng 5,4% và Nhật Bản tăng 20,5%.
Đặc biệt, năm 2025, xuất siêu nông lâm thủy sản đã đạt gần 21 tỷ USD, tăng 17% so với cùng kỳ, vượt mức xuất siêu chung của cả nước (20,03 tỷ USD- Số liệu Cục Thông kê), khẳng định vai trò trụ đỡ của nền kinh tế, đồng thời cho thấy sự chuyển dịch mạnh mẽ từ sản xuất sang kinh tế nông nghiệp, mở rộng thị trường và nâng cao giá trị, củng cố vai trò quan trọng của ngành.
Hướng đến mục tiêu 73- 74 tỷ USD trong năm 2026
Chia sẻ tại buổi họp báo, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nhấn mạnh, với kết quả đạt được trong năm 2025 và định hướng chiến lược rõ ràng cho năm 2026, xuất khẩu nông lâm thủy sản Việt Nam đang đứng trước cơ hội bứt phá về giá trị, từng bước khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế, đóng góp ngày càng quan trọng vào phát triển kinh tế-xã hội đất nước.
Năm 2026, toàn ngành phấn đấu tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 73 - 74 tỷ USD; trong đó, nhóm hàng nông sản khoảng 40 tỷ USD (tăng 7,2%), các mặt hàng thủy sản khoảng 12 tỷ USD (tăng 7,6%), lâm sản và đồ gỗ khoảng 18,8 tỷ USD (tăng 3,6%).

Để tạo bứt phá về giá trị (tức tăng giá trị gia tăng/đơn vị sản phẩm, không chỉ tăng sản lượng), Bộ tập trung nhóm giải pháp theo chuỗi “vùng nguyên liệu - tiêu chuẩn - chế biến - logistics - thị trường”.
Trên tinh thần đó, lãnh đạo Bộ TN&MT cho biết, Bộ sẽ tập trung vào ba nhóm giải pháp lớn, tạo bứt phá về giá trị, đó là: Chuẩn hóa vùng nguyên liệu theo “đơn hàng thị trường”. Mở rộng mã số vùng trồng/ao nuôi, quản lý chất lượng đầu vào, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc; tổ chức sản xuất theo tiêu chuẩn (GAP, hữu cơ, bền vững), giảm rủi ro cảnh báo và trả hàng.
Cùng với đó, đẩy mạnh chế biến sâu và đa dạng hóa sản phẩm. Ưu tiên đầu tư công nghệ chế biến, bảo quản, đóng gói; phát triển sản phẩm tinh chế/tiện lợi/ready-to-eat; tận dụng phụ phẩm để tạo chuỗi giá trị mới (thức ăn, vật liệu sinh học, chiết xuất…).
Giảm “chi phí logistics” để tăng biên giá trị. Phát triển kho lạnh, chuỗi lạnh, trung tâm logistics vùng; tối ưu vận tải, cửa khẩu/cảng; chuẩn hóa quy trình số để rút ngắn thời gian thông quan và giảm chi phí tuân thủ.
Đặc biệt, nâng cấp năng lực tiếp cận thị trường và thương hiệu quốc gia. Đẩy mạnh đàm phán mở cửa thị trường, xử lý rào cản SPS/TBT; xây dựng thương hiệu ngành hàng, chỉ dẫn địa lý, marketing theo phân khúc; chuyển mạnh từ bán “nguyên liệu” sang bán “sản phẩm có câu chuyện, có chuẩn”.
Đi cùng với đó là chuyển đổi xanh để vào phân khúc giá cao. Đo lường/giảm dấu chân carbon, chứng nhận bền vững; thúc đẩy mô hình kinh tế tuần hoàn và sản xuất phát thải thấp-đây là “giấy thông hành” vào các thị trường, chuỗi bán lẻ cao cấp.
Đồng thời tăng năng lực tài chính và quản trị rủi ro. Phát triển bảo hiểm nông nghiệp, công cụ phòng ngừa rủi ro giá/đầu vào; dự báo thị trường và cảnh báo sớm rào cản kỹ thuật để doanh nghiệp chủ động.
Thanh Thanh

