(Banker.vn) Dân tộc vươn mình đồng nghĩa mỗi người Việt Nam yêu nước phải vươn mình, trong đó cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải là tấm gương sáng thể hiện sự vươn mình mạnh mẽ, vượt lên chính mình, chiến thắng giặc nội xâm, đặt lợi ích của Tổ quốc và nhân dân lên trên hết, trước hết.
“Vươn mình” là chuyển mình vươn lên trong hoạt động và đấu tranh. Nói “khí thế vươn mình của dân tộc” là hàm ý trong đấu tranh giải phóng, cách mạng và xây dựng đất nước, quần chúng vươn lên một cách mạnh mẽ để giành lấy kết quả tốt nhất, đạt mục đích đề ra. Vươn mình có thể bằng một sự kiện lịch sử cụ thể liên quan cả một quá trình, một tiến trình lịch sử hàng chục, hàng trăm, thậm chí hàng ngàn năm theo chiều hướng phát triển đi lên, ngày càng tốt hơn, giai đoạn sau tốt hơn giai đoạn trước. Đỉnh cao của vươn mình là chuyển sang trạng thái mới, thời kỳ phát triển mới với một chất lượng mới, trình độ mới của dân tộc, của đất nước.
Dân tộc vươn mình trong hàng ngàn năm lịch sử
Với cách hiểu đó, dân tộc Việt Nam đã tỏ rõ khả năng vươn mình qua hàng ngàn năm lịch sử. Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 là dấu mốc vươn mình, mở ra thời kỳ độc lập thực sự của dân tộc, một bước tiến dài căn bản của lịch sử Việt Nam sau hơn 1000 năm thống trị của phong kiến phương Bắc. Nhà nước Đại Cồ Việt ra đời dưới triều Hoàng đế Đinh Tiên Hoàng. Tiếp đó, triều Lý định đô Thăng Long với quốc hiệu Đại Việt là sự xác lập chủ quyền quốc gia dân tộc lâu dài với thắng lợi của hai lần kháng chiến chống Tống vang mãi bài thơ thần “Nam quốc sơn hà”. Nhà Trần ba lần kháng chiến chống Mông - Nguyên với khi thế vươn lên của Hịch tướng sĩ và tinh thần Sát Thát. Dân tộc vươn mình với tinh thần “vua tôi đồng lòng, anh em hoà thuận, cả nước góp sức”.
Sau những khúc quanh của lịch sử với sự sụp đổ của nhà Hồ, Đại Việt rơi vào ách đô hộ của phong kiến phương Bắc trong hai thập kỷ (1407-1427). Càng lúc khó khăn, dân tộc càng vươn mình. Cờ khởi nghĩa Lam Sơn phất lên, kết thúc thắng lợi bằng Bình Ngô đại cáo, một bài ca khải hoàn, bản Tuyên ngôn độc lập khẳng định chủ quyền dân tộc với nền văn hiến đã lâu, núi sông bờ cõi đã phân, phong tục Bắc, Nam cũng khác.
Đất nước và dân tộc Việt Nam từ thế kỷ XVI khi triều Lê sụp đổ đến đầu thế kỷ XIX khi triều Nguyễn được lập ra là một giai đoạn đan xen, chồng lấn giữa cái tiến bộ và bảo thủ, lạc hậu; giữa khát vọng vươn lên của nhân dân và những kẻ cầm quyền chỉ lo vun vén cho lợi ích của dòng họ. Trong bức tranh đó “nhân vật nông dân” vẫn là biểu tượng sáng ngời cho sức sống mãnh liệt, phẩm chất anh hùng, tinh thần yêu nước, ý chí quật cường, khát vọng vươn mình của dân tộc. Thế kỷ XVIII được coi là “Thế kỷ chiến tranh nông dân” mà linh hồn của sự nghiệp giải phóng nhân dân, bảo vệ độc lập dân tộc thuộc về anh hùng dân tộc áo vải Nguyễn Huệ - Quang Trung.
Lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ XIX khi triều Nguyễn lên ngôi đến đầu thập niên ba mươi của thế kỷ XX khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đầy ắp nhiều biến cố, sự kiện đa dạng, phức tạp dưới ách cai trị của triều đình phong kiến triều Nguyễn câu kết với thực dân Pháp. Nhìn toàn cục, bên cạnh nhiều cố gắng nhằm ổn định tình hình đất nước, triều Nguyễn từng bước làm mất đi khả năng vươn lên của dân tộc, làm suy kiệt sức đề kháng của đất nước, đi ngược lại nguyện vọng và quyền lợi của dân tộc. Khi Pháp xâm lược, các triều vua nhà Nguyễn lần lượt đầu hàng, ký các hiệp ước cắt đất cho Pháp và cuối cùng với Hiệp ước Hácmăng (1883) và Patơnốt (1884), Việt Nam hoàn toàn trở thành thuộc địa của Pháp.
Với truyền thống anh hùng, bất khuất, dân tộc Việt Nam không ngả tay chèo, tỏ rõ tinh thần “bao giờ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam chống Tây”, quyết “chống cả Triều lẫn Tây”. Phong trào Cần Vương cuồn cuộn dâng cao cuối thế XIX không thắng lợi nhưng mở ra phong trào dân tộc kiểu mới đầu thế kỷ XX. Với sự nhạy bén tiếp thu cái mới bên ngoài và sự trỗi dậy của nội lực, sức vươn lên của dân tộc mang sức sống mới của khuynh hướng tư sản hòa quyện vũ trang bạo động với duy tân, cải cách, dân tộc Việt Nam bộc lộ khát vọng và khả năng chấn hưng dân khí, dân trí bằng con đường cải cách, đổi mới, chủ yếu về kinh tế và văn hóa. Trí tuệ và bản lĩnh của con người Việt Nam đem lại sức sống mới cho dân tộc dẫn đến những thay đổi mang tính thời đại.
Với sự xuất hiện của ngôi sao Nguyễn Ái Quốc, sức sống của dân tộc được tiếp thêm nguồn sinh lực mới, năng lượng mới, định hướng theo chiều hướng tiến bộ của con đường xã hội chủ nghĩa. Các tổ chức cộng sản ra đời nửa sau năm 1929 đầu năm 1930 là sự khẳng định hệ tư tưởng vô sản chiếm ưu thế trong phong trào dân tộc vì hướng đến giải phóng và phát triển con người toàn diện. Nhân vật mới là giai cấp công nhân bước lên vũ đài chính trị, đứng ở trung tâm của thời đại mới, tạo nên sức vươn lên mạnh mẽ của dân tộc. Lịch sử được chứng kiến sự chuyển giao ngọn cở giải phóng dân tộc từ giai cấp phong kiến và giai cấp tư sản vào tay giai cấp công nhân với đội tiên phong là Đảng Cộng sản.
Sự vươn mình của dân tộc trong thời đại Hồ Chí Minh
Dưới sự dẫn dắt của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ năm 1930 trở đi, dân tộc Việt Nam có sự vươn mình mạnh mẽ với chất lượng mới, trình độ mới. Dưới ách thống trị của Pháp - Nhật, dân ta một cổ hai tròng nhưng quyết không chịu làm vong quốc nô lệ mãi. Hai mươi triệu con Lạc cháu Hồng nhất tề đứng lên, đoàn kết, “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc. Giá trị, sức mạnh, nguồn lực của chế độ Dân chủ Cộng hoà; của ý chí “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!”, dân tộc Việt Nam vươn mình “châu chấu đấu voi”, biến “cái không thể thành cái có thể”, viết nên trang sử lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu; đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào. Một dân tộc nhỏ, đất không rộng, người không đông đã làm nên kỳ tích lịch sử đánh thắng những đế quốc to. Đó là thắng lợi mang tầm vóc lịch sử, có ý nghĩa thời đại.
Bước vào công cuộc đổi mới, cuộc chiến đấu chống lại bần cùng, lạc hậu, cũ kỹ, hư hỏng trong một thế giới đầy biến động, bất trắc, khó dự báo, khó hơn thắng đế quốc và phong kiến. Nhưng dân tộc Việt Nam là một dân tộc luôn có lòng bền, chí lớn nên đã “phá rào”, “khoán chui”, vươn mình tìm lối ra bằng đổi mới. Không chịu bó tay trước cơn lạm phát phi mã ba con số; không chịu khuất phục trước sức ép cấm vận của kẻ thù và kỳ diệu hơn, chúng ta đứng vững trước cơn địa chấn chính trị chưa từng có trong thế kỷ XX khi thành trì Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa không còn; khi bọn thù địch “quay xe” chống lại chúng ta. Lực lượng cơ hội “tìm lối thoát” cho ta bằng đa nguyên, đa đảng đối lập; bằng dựa vào nước này chống nước khác và bao nhiêu cái khó dồn dập bủa vây. Kẻ thù đã nhầm. Họ không hiểu hoặc cố tình không hiểu bề dày, độ sâu và chiều dài hàng ngàn năm của sức mạnh văn hoá và con người Việt Nam. Đó là thứ văn hoá không chỉ đại nghĩa, chí nhân trong đánh giặc, mà còn độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, tự tin, tự hào dân tộc. Chúng ta sáng tạo, biết thích ứng để sinh tồn và phát triển. Một dân tộc hàng ngàn năm Bắc thuộc không bị đồng hoá, lại đồng hoá kẻ xâm lược thì làm sao có thể nản chí, khuất phục trước khó khăn thử thách. Tiếng gọi thiêng liêng của Bác Hồ “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!” vọng mãi trong tim óc của mỗi một người Việt Nam yêu nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta vượt qua sóng to gió lớn, bão lũ, dịch bệnh, giành được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử to lớn. Đất nước phát triển mạnh mẽ, toàn diện bởi Made by Việt Nam, tạo nên diện mạo mới, dáng đứng mới, một điểm sáng trong bức tranh toàn cầu với một cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế ngày càng lớn.
Đất nước đang ở giai đoạn chuyển mình hết sức mạnh mẽ trong một thế giới đang trải qua những thay đổi có tính thời đại. Tổng Bí thư Tô Lâm nói về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam với hàm ý “kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển, làm giàu; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của thế giới, hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu”.
Văn kiện Đại hội XIV cho thấy tầm nhìn và định hướng, định hình phát triển của đất nước, tiếp tục bứt phá, tăng tốc, vươn lên mạnh mẽ. 40 năm đổi mới đưa nước ta từ chỗ thiếu đói thành một nước xuất khẩu gạo nhất nhì thế giới. Từ chỗ bị bao vây cấm vận, chúng ta vươn mình ra thế giới, có quan hệ ngoại giao với 195 nước, gồm tất cả các nước thành viên của Liên hợp quốc, có 14 nước là đối tác chiến lược toàn diện, trong đó có tất cả các nước là Thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc. Kỳ tích đó tỏ rõ tinh thần tự đổi mới, trí tuệ, bản lĩnh, tầm nhìn và sự sáng suốt của Đảng; khả năng vươn mình của dân tộc, vươn tầm của đất nước. Mỗi người Việt Nam tự hào sống trong đất nước con Lạc cháu Hồng, có Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, có Đảng quang vinh và vinh quang đời đời thuộc về dân tộc Việt Nam văn hiến và anh hùng
Dân tộc vươn mình đồng nghĩa mỗi người Việt Nam yêu nước phải vươn mình, trong đó cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải là tấm gương sáng thể hiện sự vươn mình mạnh mẽ, vượt lên chính mình, chiến thắng giặc nội xâm, đặt lợi ích của Tổ quốc và nhân dân lên trên hết, trước hết. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải chủ động chiến lược, nhạy bén nắm chắc thời cơ, quyết vượt qua khó khăn, thách thức, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, nâng cao lòng yêu nước, giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam và đại đoàn kết toàn dân tộc gắn với sức mạnh thời đại, tinh thần cách mạng tiến công. Điều có ý nghĩa quyết định là Đảng cầm quyền lãnh đạo phải “động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân” và phải thực hiện nguyên tắc “theo đúng đường lối nhân dân” như lời căn dặn của Bác Hồ. Chúng ta tin tưởng rằng với hướng đi đúng đắn, khát vọng phát triển mãnh liệt và quyết tâm chính trị cao, đất nước ta nhất định sẽ lập nên kỳ tích phát triển mới vì một nước Việt Nam giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, sải bước cùng thời đại, sánh vai với các cường quốc năm châu, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và ước vọng của toàn dân tộc ta.
PGS.TS Bùi Đình Phong

