Cục trưởng Lê Hoàng Chính Quang: 4 trụ cột đưa ngân hàng số Việt Nam “tăng tốc” năm 2026
(Banker.vn) BƯỚC SANG NĂM 2026, NGÀNH NGÂN HÀNG XÁC ĐỊNH LÀ NĂM "TĂNG TỐC" ĐỂ TẠO RA NHỮNG ĐỘT PHÁ MỚI DỰA TRÊN NỀN TẢNG DỮ LIỆU VÀ THỂ CHẾ ĐÃ KIẾN TẠO TRONG NĂM 2025. TRAO ĐỔI VỚI TẠP CHÍ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ, ÔNG LÊ HOÀNG CHÍNH QUANG – CỤC TRƯỞNG CỤC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN, NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM (NHNN) ĐÃ CHỈ RÕ 4 TRỤ CỘT CHIẾN LƯỢC (HOÀN THIỆN THỂ CHẾ SỐ, KHAI THÁC DỮ LIỆU LÀ TÀI SẢN CỐT LÕI, NÂNG TẦM HẠ TẦNG VÀ XÂY DỰNG "LÁ CHẮN" AN NINH MẠNG CHỦ ĐỘNG) LÀ "BỆ PHÓNG" VỮNG CHẮC ĐỂ CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG BỨT PHÁ, KHẲNG ĐỊNH VỊ THẾ TIÊN PHONG TRONG CÔNG CUỘC CHUYỂN ĐỔI SỐ QUỐC GIA.
BƯỚC SANG NĂM 2026, NGÀNH NGÂN HÀNG XÁC ĐỊNH LÀ NĂM "TĂNG TỐC" ĐỂ TẠO RA NHỮNG ĐỘT PHÁ MỚI DỰA TRÊN NỀN TẢNG DỮ LIỆU VÀ THỂ CHẾ ĐÃ KIẾN TẠO TRONG NĂM 2025. TRAO ĐỔI VỚI TẠP CHÍ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ, ÔNG LÊ HOÀNG CHÍNH QUANG – CỤC TRƯỞNG CỤC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN, NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM (NHNN) ĐÃ CHỈ RÕ 4 TRỤ CỘT CHIẾN LƯỢC (HOÀN THIỆN THỂ CHẾ SỐ, KHAI THÁC DỮ LIỆU LÀ TÀI SẢN CỐT LÕI, NÂNG TẦM HẠ TẦNG VÀ XÂY DỰNG "LÁ CHẮN" AN NINH MẠNG CHỦ ĐỘNG) LÀ "BỆ PHÓNG" VỮNG CHẮC ĐỂ CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG BỨT PHÁ, KHẲNG ĐỊNH VỊ THẾ TIÊN PHONG TRONG CÔNG CUỘC CHUYỂN ĐỔI SỐ QUỐC GIA.
margin: 15px auto;" />Phóng viên: Năm 2025 tiếp tục chứng kiến hoạt động chuyển đổi số ngành Ngân hàng diễn ra rất sôi động. Ông đánh giá đâu là bước tiến nổi bật nhất trong việc ứng dụng công nghệ vào hoạt động ngân hàng thời gian qua?
Ông Lê Hoàng Chính Quang: Nhìn lại năm 2025, có thể khẳng định ngành Ngân hàng đã có những bước chuyển mình mang tính chiến lược, củng cố vững chắc vị thế tiên phong trong công cuộc chuyển đổi số quốc gia. Nếu phải chọn ra điểm nhấn nổi bật nhất, tôi cho rằng, đó chính là sự kiến tạo thành công hành lang pháp lý cho đổi mới sáng tạo song hành cùng cuộc cách mạng về chuẩn hóa, khai thác dữ liệu.
Về thể chế, NHNN đã chủ động chuyển dịch từ tư duy quản lý những gì đang có sang tư duy thiết kế không gian phát triển mới. Dấu mốc quan trọng là việc ban hành Nghị định số 94/2025/NĐ-CP về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox), tạo hành lang pháp lý linh hoạt cho các công nghệ tài chính đột phá như chấm điểm tín dụng, Open API và cho vay ngang hàng, thực hiện bảo vệ doanh nghiệp về pháp lý khi sáng tạo, giảm thiểu rủi ro tuân thủ. Cùng với đó, nhiều quy định cho phép sử dụng dữ liệu điện tử, định danh số, lý lịch tư pháp trong hoạt động ngân hàng được ban hành, trực tiếp cắt giảm thời gian, chi phí và thủ tục cho người dân, doanh nghiệp.
Về dữ liệu, NHNN là một trong những bộ, ngành đầu tiên hoàn thành đồng bộ 100% cơ sở dữ liệu chuyên ngành được giao tại Nghị quyết 71/NQ-CP về Trung tâm Dữ liệu quốc gia. Cũng dựa trên dữ liệu, NHNN đã nâng cao năng lực dự báo, điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt và hiệu quả hơn. Trong triển khai Đề án 06, ngành Ngân hàng đã đối chiếu thông tin sinh trắc học của hơn 143 triệu hồ sơ khách hàng cá nhân và hơn 1,5 triệu hồ sơ khách hàng tổ chức, góp phần làm giảm hơn 59% các vụ việc lừa đảo trong thanh toán so với năm 2024.
Sức mạnh của dữ liệu không chỉ dừng lại ở công tác quản trị rủi ro, mà còn là động lực để tối ưu hóa vận hành và gia tăng tiện ích cho người dân. Nhiều ngân hàng thương mại đã ứng dụng mạnh mẽ dữ liệu để xây dựng các mô hình chấm điểm tín dụng mới, đánh giá rủi ro theo từng khách hàng, qua đó cá nhân hóa sản phẩm, dịch vụ và mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng. Tỷ lệ giao dịch thực hiện qua kênh số đã vượt ngưỡng 95%, các sản phẩm tiết kiệm trực tuyến tiếp tục thu hút hiệu quả nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư. Không chỉ trong nội bộ ngành, chuyển đổi số của ngành Ngân hàng còn lan tỏa mạnh mẽ và hỗ trợ các ngành, lĩnh vực khác như: thuế, y tế, giáo dục, giao thông, thương mại điện tử,... Người dân có thể nộp thuế điện tử 24/7, thanh toán viện phí bằng mã QR trong vài giây; 100% cơ sở giáo dục đại học đã triển khai thu học phí qua ngân hàng.
Tựu chung lại, thành tựu của năm 2025 khẳng định tầm nhìn chiến lược đúng đắn của ngành Ngân hàng, nơi sự đột phá về thể chế và sức mạnh của dữ liệu đã gắn kết chặt chẽ, tạo nên nền tảng vững chắc cho một hệ sinh thái ngân hàng, tài chính thông minh, an toàn và minh bạch.

Phóng viên: Công nghệ trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu lớn đang được ứng dụng thế nào trong việc phát hiện và ngăn chặn gian lận thanh toán? NHNN có kế hoạch thúc đẩy hệ sinh thái tài chính mở (Open Banking) tại Việt Nam trong thời gian tới như thế nào, thưa ông?
Ông Lê Hoàng Chính Quang: Trong bối cảnh tội phạm công nghệ cao ngày càng tinh vi, NHNN xác định công nghệ không chỉ là công cụ kinh doanh mà phải là “lá chắn” bảo vệ người dân. Hiện nay, Trí tuệ nhân tạo (AI) và Phân tích dữ liệu lớn (Big Data) đang được ứng dụng hiệu quả để chuyển đổi tư duy phòng chống gian lận từ thụ động sang chủ động.
Cụ thể, NHNN đã vận hành Hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro gian lận (SIMO). Nhờ khả năng phân tích dữ liệu lớn từ hàng triệu giao dịch, hệ thống này đã phát đi cảnh báo tới hơn 2,13 triệu lượt khách hàng, ngăn chặn kịp thời hàng trăm nghìn giao dịch rủi ro, với tổng giá trị bảo vệ lên tới hơn 2,6 nghìn tỷ đồng trong năm qua. Trong nước, nhiều ngân hàng ứng dụng AI để phân tích rủi ro và phòng chống gian lận, như sử dụng AI trong phát hiện giao dịch bất thường giúp nhận diện các hoạt động đáng ngờ như rửa tiền, lừa đảo thẻ tín dụng. Chẳng hạn, Vietcombank ứng dụng AI phân tích rủi ro tín dụng, phát hiện giao dịch bất thường; VietinBank ứng dụng Deep Learning trong nhận diện và ngăn chặn gian lận thẻ; Techcombank sử dụng AI và Predictive Analytics để dự đoán rủi ro tín dụng.
Về câu chuyện Ngân hàng mở (Open Banking), Ngân hàng mở được xác định là định hướng chiến lược trọng tâm của ngành Ngân hàng giai đoạn 2026-2030. Sự ra đời của Nghị định 94/2025/NĐ-CP chính là minh chứng rõ nét cho tư duy quản lý “kiến tạo” của Chính phủ và NHNN – chấp nhận rủi ro có kiểm soát để thúc đẩy đổi mới.
Đặc biệt, việc NHNN chính thức ban hành Thông tư 64/2024/TT-NHNN quy định về Giao diện lập trình ứng dụng mở (Open API) đã tạo ra bước ngoặt then chốt. Hành lang pháp lý này không chỉ giúp thị trường chuyển từ trạng thái tự phát sang chuẩn hóa, mà còn thiết lập một “tiêu chuẩn chung” để các hệ thống kết nối, chia sẻ dữ liệu an toàn. Dưới tác động tích cực này, năm 2025 đã chứng kiến sự bùng nổ mạnh mẽ khi gần 40% ngân hàng thương mại đã phát triển API mở rộng ngoài danh mục các API cơ bản được quy định tại Thông tư 64/2024/TT-NHNN. Các dịch vụ ngân hàng ngày càng được nhúng sâu vào hành trình khách hàng trên các nền tảng thương mại điện tử, y tế, giáo dục,...
Trong thời gian tới, các ngân hàng sẽ tập trung thực hiện lộ trình kỹ thuật theo quy định, mở rộng chia sẻ dữ liệu để phát triển hệ sinh thái số và tiến tới mô hình Tài chính mở (Open Finance) toàn diện. Đây là bước đi chiến lược giúp Việt Nam trở thành trung tâm Fintech năng động, sẵn sàng nắm bắt cơ hội từ thị trường Open Banking toàn cầu – vốn được dự báo đạt quy mô khoảng 43,15 tỷ USD vào năm 2026.

Phóng viên: Ông có dự báo như thế nào về những cơ hội và thách thức trong hoạt động chuyển đổi số các tổ chức tín dụng sẽ đón nhận trong năm 2026? Đâu là giải pháp để giúp các tổ chức tín dụng biến thách thức thành động lực phát triển?
Ông Lê Hoàng Chính Quang: Bước sang năm 2026, tôi cho rằng cánh cửa cơ hội đang mở ra rộng lớn hơn bao giờ hết đối với ngành Ngân hàng. Chúng ta đang đứng trước thời điểm vàng của sự hội tụ công nghệ và chính sách, tạo ra những động lực tăng trưởng mới. Cơ hội lớn nhất nằm ở việc khai thác giá trị từ dữ liệu. Sau giai đoạn nỗ lực làm sạch dữ liệu theo Đề án 06, năm 2026 là thời điểm các tổ chức tín dụng tận dụng nguồn tài nguyên số quý giá này để cá nhân hóa dịch vụ và phát triển các mô hình tín dụng số. Song hành với đó là hành lang pháp lý hoàn thiện cho Mobile Money và Cơ chế thử nghiệm (Sandbox), cho phép các tổ chức tín dụng mở rộng không gian phục vụ tới những tập khách hàng chưa có lịch sử tài chính truyền thống, cũng như thâm nhập sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Không chỉ vậy, năm 2026 còn mang đến cơ hội từ xu hướng chuyển đổi kép – Xanh và Số, nơi công nghệ trở thành đòn bẩy cho tài chính xanh, giúp ngân hàng tiếp cận nguồn vốn quốc tế giá rẻ thông qua việc đo lường tự động các chỉ số ESG (Environmental, Social, and Governance). Cùng với đó là sự phát triển và trưởng thành của AI tạo sinh (GenAI), cho phép bình dân hóa các dịch vụ cao cấp, cung cấp trợ lý tài chính ảo thông minh cho từng khách hàng đại chúng với chi phí thấp.
Tuy nhiên, thách thức song hành cũng không hề nhỏ và đang chuyển biến phức tạp về chất. Áp lực lớn nhất vẫn là an ninh mạng, khi các công cụ tấn công hỗ trợ bởi AI ngày càng nguy hiểm, đe dọa trực tiếp đến niềm tin số. Thách thức thứ hai là bài toán nguồn nhân lực, khi thị trường lao động chất lượng cao về công nghệ tài chính vẫn trong tình trạng cung không đủ cầu. Bên cạnh đó là thách thức về triển khai, kiểm soát ứng dụng AI trong hoạt động ngân hàng.
Để biến những thách thức trên thành động lực phát triển, các tổ chức tín dụng cần thực hiện đồng bộ các giải pháp chiến lược sau:
Thứ nhất, chuyển từ phòng thủ đơn lẻ sang phòng thủ liên minh, từ “thụ động” sang “tích cực, chủ động” phát hiện và xử lý sớm các nguy cơ mất an ninh, an toàn thông tin, thực hiện chia sẻ dữ liệu mối đe dọa với các cơ quan chức năng.
Thứ hai, tập trung, đẩy mạnh việc xây dựng, quản lý, khai thác có hiệu quả các Kho dữ liệu (Data Warehouse) và Hồ dữ liệu (Data Lake) tập trung, xóa bỏ tình trạng cát cứ dữ liệu (data silos), duy trì dữ liệu theo nguyên tắc “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”.
Thứ ba, phải đặt yếu tố con người làm trung tâm trong triển khai và ứng dụng AI. Thiết lập các chốt kiểm soát có sự tham gia của con người đối với các quyết định quan trọng, đồng thời thường xuyên kiểm toán thuật toán để bảo đảm minh bạch, công bằng, giữ vững niềm tin khách hàng.
Thứ tư, đẩy mạnh hợp tác thay vì cạnh tranh đơn lẻ, cần bắt tay chặt chẽ với các công ty Fintech để cùng khai thác hệ sinh thái chung.
Và cuối cùng, yếu tố then chốt là con người, cần có chính sách đãi ngộ đột phá để thu hút nhân tài, đồng thời xây dựng văn hóa học tập suốt đời, phấn đấu mỗi cán bộ ngân hàng trở thành một “đại sứ số” thực thụ, sẵn sàng thích ứng với mọi sự thay đổi của công nghệ.
Phóng viên: Chuyển đổi số tiếp tục là một trong những trọng tâm hoạt động của ngành Ngân hàng năm 2026. Trong bối cảnh đó, ông có thể chia sẻ những mục tiêu trọng tâm của Cục Công nghệ thông tin trong năm 2026 để tiếp tục thúc đẩy chuyển đổi số ngành Ngân hàng?
Ông Lê Hoàng Chính Quang: Năm 2026 được Đảng và Nhà nước xác định là năm “tăng tốc”, tạo ra những đột phá mới dựa trên những kết quả, nền tảng đạt được của năm 2025. Bám sát Chiến lược Chuyển đổi số và Chiến lược Dữ liệu ngành Ngân hàng đến năm 2030, Cục Công nghệ thông tin xác định 4 trụ cột chiến lược trọng tâm trong năm tới.
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện “thể chế số” để mở đường cho đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Công nghệ đi rất nhanh, nếu hành lang pháp lý không theo kịp sẽ trở thành rào cản. Nhiệm vụ trọng tâm của chúng tôi là trình Thống đốc ban hành các quy định “khó nhưng phải làm” về trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và sửa đổi quy định về điện toán đám mây. Qua đó, kiến tạo một môi trường pháp lý vừa thông thoáng cho các ngân hàng sáng tạo, vừa đảm bảo tính an toàn, bảo mật của hệ thống.
Thứ hai, xác định dữ liệu là nền tảng cốt lõi và tài sản chiến lược của ngành, năm 2026, Cục Công nghệ thông tin sẽ tập trung khai thác nguồn lực này thông qua việc triển khai quyết liệt Chiến lược dữ liệu của ngành Ngân hàng với những nhiệm vụ trọng tâm gồm: (i) Hoàn thiện khuôn khổ quản trị, ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật về kết nối và chia sẻ dữ liệu; (ii) Hoàn thiện và đưa vào khai thác các cơ sở dữ liệu của NHNN; (iii) Chỉ đạo các tổ chức tín dụng sẵn sàng kết nối, khai thác, chia sẻ dữ liệu với các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu doanh nghiệp, các ngành, lĩnh vực để khai thác, tổng hợp dữ liệu phục vụ xác minh thông tin, phân loại, đánh giá khách hàng. Duy trì dữ liệu theo nguyên tắc “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”, nhằm phục vụ hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành và kiến tạo hệ sinh thái ngân hàng số thông minh phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Thứ ba, nâng tầm "hạ tầng số" lên mức độ sẵn sàng cao nhất. Hạ tầng ngân hàng không được phép "ngủ". Chúng tôi đặt mục tiêu đầy tham vọng là chuyển dịch hệ thống Thanh toán điện tử liên ngân hàng sang mô hình Active-Active để bảo đảm hoạt động liên tục trong mọi tình huống, thực hiện quy hoạch lại hạ tầng mạng để sẵn sàng thiết lập, vận hành trên nền tảng điện toán đám mây. Tại các tổ chức tín dụng, đẩy mạnh việc xây dựng và triển khai hạ tầng tập trung, tích hợp, kết nối mở rộng với các ngành, lĩnh vực khác để thiết lập hệ sinh thái số và cung ứng đa dạng các sản phẩm, dịch vụ dựa trên dữ liệu hướng đến các mô hình kinh doanh mới như ngân hàng mở (Open Banking), tài chính nhúng (Embedded Finance), ngân hàng như một dịch vụ (Banking as a Service - BaaS),... để cung ứng các sản phẩm, dịch vụ thân thiện, an toàn tiện lợi với chi phí thấp.
Cuối cùng, là "lá chắn" An ninh mạng. Trong bối cảnh tội phạm mạng ngày càng tinh vi, an ninh mạng là vấn đề sống còn. Chúng tôi xác định an toàn thông tin không đơn thuần là vấn đề kỹ thuật, mà đòi hỏi sự hợp lực chặt chẽ giữa 3 chủ thể: Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Cục Công nghệ thông tin sẽ tăng cường hợp tác với các đơn vị của Bộ Công an trong công tác an ninh mạng. Đối với các tổ chức tín dụng, chúng tôi định hướng chuyển đổi tư duy từ “phòng thủ bị động” sang “ngăn chặn chủ động” bằng việc ưu tiên đầu tư cho các hệ thống giám sát an ninh bảo mật tiên tiến, phát hiện sớm dấu hiệu bất thường. Song song với đó, công tác truyền thông nâng cao nhận thức sẽ được đẩy mạnh, bởi chúng tôi tin rằng “Niềm tin số” chỉ bền vững khi mỗi người dân được trang bị kỹ năng để trở thành một chốt chặn an toàn trong hệ sinh thái số.
Tôi tin rằng, với sự chuẩn bị kỹ lưỡng về thể chế, hạ tầng, dữ liệu và an ninh bảo mật trong năm 2026, ngành Ngân hàng sẽ có một bệ phóng vững chắc để bứt phá trong kỷ nguyên số.
Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn ông!

