ASEAN 2026: Thử thách sức bền, sức mạnh và bản lĩnh
27/01/2026 - 11:19424 phút đọc
(Banker.vn)Động lực thương mại của ASEAN sẽ bền bỉ trong năm 2026, tuy nhiên, kết quả tăng trưởng mỗi nước một khác, phụ thuộc vào hiệu ứng tăng trưởng thương mại trong năm 2025 sẽ lan tỏa ra sao đến nền kinh tế trong nước.
Thương mại ASEAN sẽ trụ vững
Trong báo cáo ASEAN Perspectives “Năm 2026: Thử thách sức bền, sức mạnh và bản lĩnh” vừa công bố, Bộ phận Nghiên cứu Đầu tư Toàn cầu HSBC nhận định, năm 2025 dường như là một nghịch lý đối với ASEAN. Mặc dù thuế quan còn nhiều ồn ào và sự bất định phủ bóng suốt năm qua, thương mại vẫn bền bỉ, không chỉ ở Đông Nam Á mà trên toàn châu Á và thế giới. Riêng ở ASEAN, xuất khẩu tăng trưởng với tốc độ đáng ngạc nhiên khoảng 12% so với cùng kỳ năm trước từ tháng 1-11/2025 (biểu đồ 1).
Biểu đồ 1: Xuất khẩu của ASEAN tăng lên sau “Ngày giải phóng”…
Biểu đồ 2: … làm dấy lên nhiều lo ngại rằng nhu cầu frontloading sẽ giảm trong năm 2026
Việc đẩy nhanh đơn hàng đặt trước do lo ngại vấn đề thuế quan là một trong những nguyên nhân chính khiến nghịch lý này bớt mâu thuẫn. Tuy nhiên, như nhà Kinh tế trưởng Toàn cầu của HSBC, Janet Henry, đã từng nhiều lần nhận định, thương mại chủ yếu được hỗ trợ bởi ngành Trí tuệ Nhân tạo (Artificial Intelligence – AI) đang nở rộ. Sự phát triển này không chỉ làm gia tăng nhu cầu về phần cứng, phần mềm và dịch vụ liên quan đến AI mà cả tài sản tạo ra nhờ nắm giữ cổ phiếu AI qua đó hỗ trợ thúc đẩy chi tiêu của người tiêu dùng ở Mỹ.
Giờ đây, năm 2026 đã đến. Liệu nghịch lý này có còn tiếp tục duy trì đối với Đông Nam Á? Sự bất định quả thật đã giảm bớt khi Mỹ bắt đầu “ngấm đòn” thuế quan do chính nước này khởi xướng. Sự sụt giảm nhu cầu đẩy nhanh đơn hàng đặt trước cuối cùng cũng bắt đầu hiển hiện. ASEAN không hẳn vô sự trước tác động này bởi xuất khẩu từ ASEAN sang Mỹ đã bắt đầu giảm nhẹ sau đợt tăng vọt trong nửa đầu năm 2025 (Biểu đồ 2).
Tuy nhiên, các chuyên gia HSBC vẫn tin rằng thương mại ở ASEAN sẽ duy trì bền bỉ ngay cả sau kết quả đầy ấn tượng trong năm 2025 và sự sụt giảm của nhu cầu đẩy nhanh đơn hàng đặt trước. Tăng trưởng thương mại có thể không nhanh như năm 2025 nhưng vẫn đủ ấn tượng để thu hút sự chú ý.
Biểu đồ 3: Thị phần xuất khẩu toàn cầu của ASEAN tăng đáng kể giai đoạn 2024-2025 trong khi nhập khẩu không tăng nhiều
margin: 15px auto;" />
Biểu đồ 4. Thị phần xuất khẩu toàn cầu của ASEAN, tính theo thị trường đến
Biểu đồ 5: Mức thuế chính thức của Mỹ ở ASEAN thấp hơn so với Ấn Độ và Trung Quốc
Biểu đồ 3 chính là lời lý giải. Trong bối cảnh thương mại gia tăng, ASEAN chứng kiến thị phần xuất khẩu toàn cầu tăng 2 điểm phần trăm: từ khoảng 7,4% trong năm 2023 lên khoảng 9,4% trong năm 2025, là minh chứng cho thấy kết quả vượt trội về thương mại của ASEAN không hoàn toàn nhờ nhu cầu đẩy nhanh đơn hàng đặt trước. Nếu vì nguyên nhân đó thì thương mại toàn cầu đã phải tăng đều giúp thị phần xuất khẩu tương đối ổn định. Do vậy, sự gia tăng thị phần của ASEAN sẽ hạn chế tác động đối bất kể mức độ chậm lại của thương mại.
Nếu đào sâu hơn vào các dữ kiện chi tiết, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về “miếng bánh” thương mại toàn cầu lớn hơn này.
Biểu đồ 3 cũng cho thấy sự gia tăng thị phần xuất khẩu toàn cầu của ASEAN không tương xứng với sự gia tăng thị phần nhập khẩu toàn cầu của khu vực này. Mặc dù có thể ám chỉ rằng, giá hàng hóa trên toàn cầu đã ổn định (chẳng hạn như dầu mỏ), sự không tương xứng này
Biểu đồ 3 cũng cho thấy sự gia tăng thị phần xuất khẩu toàn cầu của ASEAN không tương xứng với sự gia tăng thị phần nhập khẩu toàn cầu của khu vực này. Mặc dù có thể ám chỉ rằng giá hàng hóa trên toàn cầu đã ổn định (chẳng hạn như dầu mỏ), sự không tương xứng này cũng có thể đơn thuần phản ánh động thái đa dạng hóa chuỗi cung ứng sang ASEAN, hơn là hàng hóa chuyển tải (transshipments).
Thêm nữa, sự bùng nổ xuất khẩu của ASEAN cũng khá đa dạng xét về điểm đến của xuất khẩu. Biểu đồ 4 tóm lược thông tin về các hành lang thương mại đã thúc đẩy sự gia tăng thị phần toàn cầu của ASEAN. Đó là những hành lang nào? Câu trả lời là tất cả các hành lang, ngoại từ Trung Quốc đại lục. Xuất khẩu từ Đông Nam Á sang Mỹ, Ấn Độ, Mexico, nội khối ASEAN và đến các nước khác trên thế giới đang chiếm một phần lớn trong xuất khẩu toàn cầu – một minh chứng cho tầm quan trọng ngày càng gia tăng của ASEAN trong thương mại.
Bối cảnh và chính sách toàn cầu nhiều khả năng sẽ càng củng cố vị thế này của ASEAN, đồng thời gia tăng sự bền bỉ của Đông Nam Á trước bất kỳ tình huống sụt giảm nhu cầu đẩy nhanh đơn hàng đặt trước nào.
"Ít nhất thì ASEAN vẫn tiếp tục là “nơi trú ẩn” giữa những ồn ào thuế quan", báo cáo của HSBC nhấn mạnh. Trên thực tế, dữ liệu cán cân thanh toán cho thấy đầu tư trực tiếp ròng vào khu vực này tiếp tục gia tăng cho dù với tốc độ có chậm lại so với năm 2024. Phần lớn các khoản đầu tư trực tiếp nước ngoài này đang chảy vào những doanh nghiệp thương mại lớn của Việt Nam và Malaysia. (Biểu đồ 6).
Biểu đồ 6. FDI vào ASEAN tiếp tục gia tăng trong năm 2025 dù tốc độ có chậm lại
Biểu đồ 7: Khối lượng thương mại hưởng lợi từ nhu cầu AI
Cũng theo HSBC, ASEAN hội đủ điều kiện để nắm bắt những thuận lợi từ sự bùng nổ AI đang diễn ra, có thể thấy 1/3 xuất khẩu ASEAN thuộc lĩnh vực điện tử. Ở đây, cả bốn nền kinh tế phụ thuộc thương mại của ASEAN đều sẵn sàng để nắm bắt những thuận lợi, tất cả đều có một phần lớn hàng xuất khẩu trong xử lý dữ liệu tự động và bo mạch in (Biểu đồ 7) – hai loại phần cứng cần thiết cho việc ứng dụng AI.
Mặc dù vậy, nhu cầu tương lai, mặc dù gần đây đã suy giảm trên toàn cầu, vẫn đang mạnh mẽ ở ASEAN. 5/6 nền kinh tế ASEAN có chỉ số đơn hàng xuất khẩu mới PMI trong quý cuối năm 2025 cao trên mức bình quân trong quá khứ, ngược lại với tình hình ở Trung Quốc đại lục và các nền kinh tế đã phát triển như Mỹ, Anh và Nhật Bản (Biểu đồ 8)
Biểu đồ 8: Bất chấp rủi ro nhu cầu suy giảm, đơn hàng xuất khẩu ở ASEAN vẫn mạnh mẽ
Biểu đồ 9: Tăng trưởng mức lương trên toàn ASEAN trong năm 2025 khá đa dạng
Kết quả tăng trưởng sẽ khá đa dạng trên toàn khu vực này. Sự đa dạng này không phải do thương mại, xuất khẩu trên toàn khu vực nhiều khả năng sẽ đạt kết quả tốt. Xét về mặt nào đó, sự đa dạng này được thúc đẩy bởi mức độ chuyển hóa kết quả thương mại sang đầu tư và tiêu dùng, cũng như chính sách hỗ trợ nội lực của từng nền kinh tế.
Báo cáo của HSBC nêu bật ba nền kinh tế trong ASEAN sẽ có khả năng tăng trưởng vượt trội phù hợp với tiềm năng hoặc hơn trong năm 2026, là: Malaysia, Việt Nam và Singapore. "Họ không chỉ thành công trong việc đảm bảo lợi ích của thương mại lan tỏa sang nền kinh tế trong nước mà động lực tài khóa cũng đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng", báo cáo của HSBC viết.
Các chuyên gia HSBC cho biết, hiệu ứng lan tỏa từ thương mại có thể được đánh giá bằng tình hình thị trường việc làm và mức lương tăng lên ra sao. Biểu đồ 9 cho thấy mức lương ở những nền kinh tế phụ thuộc thương mại hơn như Singapore, Malaysia và Việt Nam tăng nhanh hơn mức lương ở Thái Lan và Indonesia trong năm 2025.
Biểu đồ 10: Tăng trưởng tín dụng và đầu tư vẫn mạnh mẽ ở Việt Nam
Biểu đồ 11: Tâm lý doanh nghiệp ở Malaysia vẫn lạc quan nếu không muốn nói là đang cải thiện
Biểu đồ 12: Tỷ lệ công suất hiệu dụng trên toàn ASEAN, tỷ lệ của Thái Lan đã và đang suy giảm
Biểu đồ 13: Các ngành quy mô lớn của Thái đang lạc quan, các ngành quy mô tầm trung thì không
Sự tập trung của Malaysia vào ngành điện tử và mối quan hệ tương hỗ với chuỗi cung ứng của Trung Quốc đại lục đã giúp tăng hiệu quả và lợi nhuận cho các nhà sản xuất trong nước, họ có thể nhập khẩu nguyên liệu đầu vào rẻ hơn từ Trung Quốc, lắp ráp và rồi xuất hàng đi nước ngoài với giá cạnh tranh. Tâm lý doanh nghiệp ở đây vẫn rất vững vàng, nếu không muốn nói là đang tốt thêm (Biểu đồ 11).
Mặt khác, một lượng lớn doanh nghiệp sản xuất của Thái Lan lại cạnh tranh trực tiếp với Trung Quốc, chẳng hạn như trong lĩnh vực ô tô và linh kiện. Trong bối cảnh các nhà sản xuất Trung Quốc bán hàng ở ASEAN với giá rất cạnh tranh, doanh nghiệp sản xuất ở Thái Lan rơi vào thế khó cạnh tranh. Do đó, Thái Lan là quốc gia duy nhất trong khu vực có tỷ lệ công suất hiệu dụng của các ngành suy giảm (Biểu đồ 12).
Philippines lại là một trường hợp thú vị. Lĩnh vực BPO (Business Process Outsourcing – gia công quy trình kinh doanh) đã tận dụng lợi thế của AI thông qua cung cấp dịch vụ dán nhãn và chú thích (dán nhãn?) dữ liệu cho chuỗi cung ứng AI. Tuy nhiên, ở đây, mức lương gia tăng không chuyển hóa thành tiêu dùng mạnh mẽ. Nguyên nhân là các hộ gia đình rốt cuộc đã bắt đầu tiết kiệm (Biểu đồ 14).
Trên thực tế, nghiên cứu tỷ lệ tiết kiệm của từng nước trong khu vực cho thấy một góc nhìn thú vị. Biểu đồ 15 cho thấy, tỷ lệ tiết kiệm quốc gia của Philippines đang trên đà tăng, mặc dù Ngân hàng Trung ương Philippines (Bangko Sentral ng Pilipinas – BSP) đã nới lỏng chính sách tiền tệ từ tháng 10/2024.
Tỷ lệ tiết kiệm quốc gia của Thái Lan cũng đang trên đà tăng bởi nước này đang trải qua chu kỳ tháo gỡ đòn bẩy để trả mức nợ hộ gia đình cao. Mặt khác, tỷ lệ tiết kiệm ở Malaysia đang trên đà giảm xuống, cho thấy mức độ tích cực của tâm lý người tiêu dùng và doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Biểu đồ 14: Ở Philippines, ngày càng nhiều hộ gia đình đang tiết kiệm
Biểu đồ 15: Tỷ lệ tiết kiệm quốc gia ở các nước ASEAN-4
Sức mạnh tài khóa
Theo đánh giá của HSBC sức mạnh tài khóa của mỗi nền kinh tế nhiều khả năng sẽ đóng vai trò quan trọng nhất trong việc lý giải sự đa dạng trong tăng trưởng của ASEAN.
Bảng 1 dưới đây liệt kê mục tiêu tài khóa cho năm 2026 của mỗi nền kinh tế so với xu hướng trước đây nhằm giúp hình dung mức độ mở rộng của chính sách tài khóa. Cũng trong bảng này, các chuyên gia HSBC đánh giá mức độ tin tưởng vào khả năng từng nền kinh tế đạt được mục tiêu tài khóa cũng như đánh giá tốc độ thực hiện.
Mặc dù vậy, tất cả các nền kinh tế đều có kế hoạch giữ cho động lực tài khóa của mình vận hành trơn tru. Điều này hết sức quan trọng nếu nhu cầu đẩy nhanh đơn hàng đặt trước sụt giảm bởi không phải nước nào cũng hưởng lợi từ nhu cầu AI mạnh mẽ.
"Chúng tôi có cái nhìn tích cực khi nhắc đến việc Việt Nam, Indonesia, Malaysia và Singapore phô trương sức mạnh tài khóa ấn tượng trong năm 2026", báo cáo của HSBC nhấn mạnh.
Các chuyên gia HSBC nhận định, với tỷ lệ nợ công trên GDP thấp, Việt Nam và Indonesia đang tập dượt để bồi đắp sức mạnh tài khóa trong năm 2026, tích lũy thâm hụt tài khóa vượt mức bình quân trước đại dịch. Việt Nam sẵn sàng thúc đẩy chi tiêu cho hạ tầng bởi Việt Nam đang triển khai kế hoạch cải tổ rộng khắp với mục tiêu tỷ lệ thâm hụt tài khóa trên GDP nhỉnh hơn mức khoảng 4,1% trước đại dịch.
Bảng 1: Tóm lược đánh giá xung lực tài khóa của từng nền kinh tế ASEAN trong năm 2026
Biểu đồ 16: Indonesia đã triển khai một loạt biện pháp kích thích tài khóa
Biểu đồ 17: Cán cân sơ cấp ổn định nợ trên toàn ASEAN
Với Singapore, sau khi tích lũy thặng dư tài khóa khoảng 1,9% GDP trong năm ngoái, quốc gia này đã có nguồn lực tài khóa cần thiết để hỗ trợ tăng trưởng nếu kinh tế mất đà.
Trong khi đó, Malaysia và Thái Lan lại cho thấy một trường hợp so sánh thú vị. Cả hai nền kinh tế đều đang dần giảm chi tiêu tài khóa thông qua mục tiêu giảm tỷ lệ thâm hụt tài khóa trên GDP so với năm trước nhưng mức thâm hụt vẫn trên mức trước đại dịch. Nguyên là do cả hai nền kinh tế đều không có dư địa tài khóa để thúc đẩy tăng trưởng. Các nhà làm chính sách ở Malaysia đang từ từ đưa tỷ lệ nợ công trên GDP giảm xuống trong khi, dựa trên ước tính của HSBC, cán cân sơ cấp của Thái Lan sẽ cần tỷ lệ nợ trên GDP dương mới có thể ổn định (Biểu đồ 17).
Còn tại Philippines. Các chuyên gia của HSBC cho rằng, quốc gia này sẽ chứng kiến sức mạnh tài khóa tạm ngưng một thời gian dài trong khi họ tiến hành một cuộc điều tra tham nhũng quy mô lớn. Mặc dù chính phủ nước này dự kiến thâm hụt tài khóa ở mức 5,2% GDP. Dẫu vậy, HSBC kỳ vọng thâm hụt tài khóa của nền kinh tế này sẽ thu hẹp xuống còn 3,8% GDP trong năm 2026 – trở thành yếu tố thuận lợi lớn nhất cho tăng trưởng. Điều đó cũng có thể được ngầm hiểu là tỷ lệ nợ công trên GDP sẽ có thể giảm xuống 60,6% trong năm 2026 từ mức khoảng 64% của năm 2025.
Biểu đồ 18: Đầu tư công của Malaysia đi liền với đầu tư từ khối tư
Biểu đồ 19: Lịch sử cho thấy sụt giảm chi tiêu ở Philippines có thể kéo dài nhiều năm
Vai trò của tiền tệ
Trong bối cảnh tăng trưởng của Malaysia, Việt Nam và Singapore vẫn mạnh mẽ, HSBC không kỳ vọng các nhà làm chính sách thay đổi chính sách tiền tệ. Thực tế, nếu lạm phát bùng lên trên toàn khu vực, những nền kinh tế này có thể là nhóm đầu tiên thắt chặt chính sách tiền tệ (không phải kịch bản cơ sở).
Với trường hợp Philippines, Thái Lan và Indonesia, các chuyên gia HSBC kỳ vọng chính sách sẽ được nới lỏng thêm để bù đắp yếu tố cản trở tăng trưởng. "Chúng tôi cho rằng ngân hàng trung ương của Philippines (BSP) và Thái Lan (BoT) đang ở cuối chu kỳ nới lỏng còn Ngân hàng trung ương Indonesia (BI) vẫn còn nhiều dư địa", báo cáo của HSBC viết và kỳ vọng: "Ngân hàng trung ương Thái Lan sẽ cắt giảm lãi suất chính sách 25 điểm cơ sở xuống 1% còn Ngân hàng trung ương Philippines sẽ đưa lãi suất chính sách xuống 4,25% hoặc thấp hơn nếu FED giảm lãi suất chính sách xuống nữa".
Đối với Indonesia, sau các lần giảm lãi suất tổng cộng 150 điểm cơ sở, các chuyên gia HSBC kỳ vọng Indonesia sẽ giảm tiếp 75 điểm cơ sở trong năm 2026, đưa lãi suất chính sách xuống 4%. Dự kiến, những đợt cắt giảm này sẽ diễn ra dàn trải trong quý I, quý II và quý III, bởi Ngân hàng trung ương Indonesia (BI) cần cân nhắc thời điểm phù hợp là lúc đồng USD yếu đi hoặc ổn định.
Tuy nhiên, liệu chỉ nới lỏng chính sách tiền tệ trong năm 2026 là đủ? Đây chính là vấn đề của mức độ truyền dẫn chính sách tiền tệ và tính tới thời điểm này, cả 3 quốc gia nêu trên đều gặp khó khăn trong việc chuyển hóa động thái giảm lãi suất chính sách thành tăng trưởng tín dụng hoặc giảm lãi suất bán lẻ (Biểu đồ 20 và biểu đồ 21). Thái Lan là một trường hợp đáng chú ý với mức nợ hộ gia đình cao khiến chính sách tiền tệ kém hiệu quả.
Do vậy, một khi các ngân hàng trung ương kết thúc chu kỳ nới lỏng, các nhà làm chính sách tiền tệ sẽ đề xuất chiến lược an toàn vĩ mô để cải thiện hiệu quả truyền dẫn chính sách tiền tệ.
Biểu đồ 20: Mức độ truyền dẫn chính sách tiền tệ trong lãi suất bán lẻ còn thấp, ngoại trừ trường hợp Malaysia
Biểu đồ 21: Tăng trưởng tín dụng ở hầu hết các nước ASEAN đang thấp hơn mức trước đại dịch