(Banker.vn) Tình hình xung đột tại Trung Đông đang gây ra nhiều rủi ro cho hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp điều Việt Nam, từ đình trệ vận chuyển, ách tắc dòng tiền đến nguy cơ biến động giá khi hàng đến thị trường.
margin: 15px auto;" />Trao đổi với phóng viên, ông Bạch Khánh Nhựt, Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas) cho biết, các doanh nghiệp đang phải tính toán lại chiến lược thị trường và thận trọng hơn khi ký kết hợp đồng.
Phóng viên: Xung đột tại Trung Đông đang ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp điều Việt Nam, thưa ông?
Ông Bạch Khánh Nhựt: Tình hình xung đột tại Trung Đông trong hơn 2 tuần qua đã khiến nhiều tàu hàng không thể vào khu vực này. Vì vậy, nhiều lô hàng của doanh nghiệp điều Việt Nam hiện đang nằm trên tàu, chưa thể giao cho khách hàng.
Trong điều kiện bình thường, khi hàng đến nơi và được giao cho đối tác, khách hàng sẽ thanh toán ngay. Tuy nhiên hiện nay tiền hàng đang “nằm trên tàu”, trong khi phần lớn nguồn vốn của doanh nghiệp là vốn vay ngân hàng.
Theo vòng quay tín dụng, khi khoản vay đến hạn, doanh nghiệp phải trả vốn và lãi cho ngân hàng. Nhưng vì khách hàng chưa nhận được hàng nên chưa thanh toán, dẫn đến doanh nghiệp bị thiếu hụt dòng tiền để trả nợ.
Ngoài ra, khi hàng đến nơi sau chiến sự, thị trường có thể phát sinh nhiều tình huống khó lường. Trong điều kiện bình thường, mỗi gia đình tại Trung Đông có thể mua vài kg hạt điều để tiêu dùng. Nhưng nếu chiến tranh kéo dài khiến kinh tế bị ảnh hưởng, người dân sẽ phải thắt chặt chi tiêu.
Khi ngân sách gia đình bị hạn chế, những mặt hàng không thiết yếu như hạt điều có thể bị cắt giảm. Khi đó, nếu hàng đến muộn, giá thị trường có thể giảm mạnh.
Phóng viên: Vinacas đã thống kê được lượng hạt điều đang bị ảnh hưởng tại Trung Đông chưa?
Ông Bạch Khánh Nhựt: Hiện nay Vinacas vẫn chưa thể thống kê chính xác lượng nhân điều đang bị ảnh hưởng tại khu vực này.
Lý do là ngoài các doanh nghiệp hội viên Vinacas còn có nhiều doanh nghiệp ngoài hội và doanh nghiệp FDI cũng tham gia xuất khẩu điều. Để có số liệu đầy đủ, cần có sự hỗ trợ từ cơ quan hải quan.
Tuy nhiên, vấn đề mà các doanh nghiệp lo ngại nhất hiện nay là rủi ro về giá. Các đơn hàng đã được chốt từ trước và hàng đang trên đường vận chuyển. Nếu khi hàng tới nơi mà thị trường giảm sâu, khách hàng có thể đề nghị đàm phán lại giá.
Trong trường hợp đó, doanh nghiệp Việt Nam có thể phải chịu thêm thiệt hại, sau khi đã phát sinh chi phí sản xuất và vận chuyển.
Phóng viên: Trong bối cảnh này, doanh nghiệp có giải pháp gì để bù đắp sự sụt giảm tại thị trường Trung Đông?
Ông Bạch Khánh Nhựt: Trước tình hình hiện nay, Vinacas khuyến nghị doanh nghiệp cần nhanh chóng tìm kiếm các thị trường thay thế.
Trước năm 2024, trong hơn 10 năm liên tiếp, Mỹ luôn là thị trường nhập khẩu nhân điều lớn nhất của Việt Nam. Tuy nhiên từ tháng 4/2025, khi Mỹ áp dụng chính sách thuế đối ứng, xuất khẩu sang thị trường này giảm và Mỹ rơi xuống vị trí thứ hai sau Trung Quốc.
Trước sự thay đổi đó, doanh nghiệp Việt Nam đã chuyển hướng sang khu vực Trung Đông và đạt được những kết quả tích cực. Trong năm 2025, khu vực này vươn lên trở thành thị trường lớn thứ ba của điều Việt Nam.
Tuy nhiên, với tình hình hiện nay, thị phần mà doanh nghiệp đã dày công xây dựng tại Trung Đông có nguy cơ bị ảnh hưởng trong năm 2026. Hiện nay nhiều doanh nghiệp cũng không dám ký thêm đơn hàng vào khu vực này vì lo ngại rủi ro.
Trung Đông chiếm hơn 10% thị phần xuất khẩu của ngành điều, vì vậy nếu thị trường này gặp khó khăn chắc chắn sẽ tác động đáng kể đến xuất khẩu của ngành trong năm nay.
Phóng viên: Theo ông, đâu là những thị trường có thể bù đắp phần thị phần đang bị gián đoạn?
Ông Bạch Khánh Nhựt: Trong bối cảnh hiện nay, thị trường đầu tiên mà doanh nghiệp nghĩ đến là Mỹ.
Trước đây Mỹ là thị trường số một của ngành điều Việt Nam trong nhiều năm liền. Hiện nay thuế đối với hạt điều đã quay trở lại mức 0%, tương tự như trước đây. Điều này tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp quay lại thị trường Mỹ.
Với cơ sở hạ tầng thương mại và hệ thống khách hàng đã được xây dựng trong hơn một thập kỷ, việc quay lại thị trường Mỹ sẽ thuận lợi hơn so với việc tìm kiếm một thị trường hoàn toàn mới.
Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng là thị trường rất tiềm năng. Trong hai năm gần đây, lượng nhập khẩu điều nhân từ Việt Nam của Trung Quốc đã tăng lên đáng kể so với giai đoạn trước.
Từ đầu năm đến nay, nhiều nhà máy đang xuất hàng sang thị trường Trung Quốc và dự kiến lượng xuất khẩu vào thị trường này sẽ tiếp tục tăng. Nếu mỗi thị trường lớn tăng thêm một tỷ lệ, có thể bù đắp vào lượng xuất khẩu đang bị ảnh hưởng từ Trung Đông.
Phóng viên: Trong điều kiện hiện nay, Vinacas có khuyến cáo gì đối với các doanh nghiệp?
Ông Bạch Khánh Nhựt: Thứ nhất, các doanh nghiệp cần hết sức thận trọng khi ký hợp đồng và lựa chọn thời điểm giao hàng với khách hàng tại Trung Đông.
Nếu giao hàng khi chiến sự chưa chấm dứt, lô hàng có thể bị kẹt trên biển trong thời gian dài. Khi đó dòng tiền của doanh nghiệp sẽ bị đình trệ, đồng thời phát sinh thêm chi phí lãi vay ngân hàng.
Thứ hai, nếu hàng đến thị trường vào thời điểm không thuận lợi, giá cả có thể biến động mạnh và khách hàng có thể yêu cầu đàm phán lại giá, khiến doanh nghiệp chịu thiệt hại tài chính.
Thứ ba, chi phí vận chuyển hiện nay cũng đang tăng và thiếu ổn định. Theo chia sẻ từ một số hãng tàu, giá cước có thể thay đổi theo từng tuần, thậm chí phát sinh thêm chi phí khi tàu đang trên hành trình nếu chiến sự diễn biến phức tạp.
Vì vậy, Vinacas khuyến nghị doanh nghiệp cần theo dõi sát tình hình và cân nhắc kỹ trước khi ký kết hợp đồng với thị trường Trung Đông.
Song song với đó, doanh nghiệp nên khai thác lại các thị trường đã có nền tảng như Mỹ và Trung Quốc. Đây là hai thị trường tiêu thụ điều lớn nhất thế giới, và nếu mỗi doanh nghiệp tăng xuất khẩu thêm vài phần trăm, hoàn toàn có thể bù đắp phần thị phần đang bị gián đoạn tại Trung Đông.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!
Nguyễn Huyền

