margin: 15px auto;" />

Từ giai đoạn chống đỡ “cú sốc”, Việt Nam đã bước sang giai đoạn củng cố, bứt phá

Tăng trưởng ấn tượng

Hiếm có nhiệm kỳ nào trong lịch sử, Chính phủ Việt Nam phải bắt đầu trong hoàn cảnh nhiều thử thách khác biệt, dị biệt, vượt tầm dự báo như giai đoạn 2021 - 2025. Trong đó, đại dịch Covid-19 đạt đỉnh điểm, chuỗi cung ứng toàn cầu đứt gãy, kinh tế thế giới rơi vào suy thoái, biến đổi khí hậu gay gắt, xung đột địa chính trị, năng lượng và an ninh lương thực trở thành những thách thức hiện hữu...

Nhưng, cũng chính trong hoàn cảnh ngặt nghèo ấy, dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, sự đồng hành, vào cuộc, phối hợp của các cơ quan trong hệ thống chính trị, sự ủng hộ của người dân và doanh nghiệp, sự hợp tác của bạn bè, đối tác quốc tế, bản lĩnh quốc gia và năng lực điều hành của Chính phủ đã được “thử lửa”.

Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2025, triển vọng 2026. Ảnh: Dương Giang

Bằng tư duy linh hoạt, sáng tạo và tận dụng tốt các cơ hội phát triển, nhiều khó khăn đã được hóa giải, thậm chí “chuyển nguy thành cơ”, giúp nền kinh tế duy trì xu hướng phục hồi và tăng trưởng “tháng sau cao hơn tháng trước, quý sau tốt hơn quý trước, năm sau tốt hơn năm trước”.

Nổi bật là kinh tế Việt Nam thể hiện sức chống chịu kiên cường và đạt tốc độ tăng trưởng thuộc nhóm cao hàng đầu khu vực, thế giới. Quy mô GDP tăng từ 346 tỷ USD vào năm 2020 lên 510 tỷ USD vào năm 2025, đưa Việt Nam tăng 5 bậc, lên hạng 32 thế giới và thứ 4 ASEAN. GDP bình quân đầu người tăng từ 3.552 USD lên khoảng 5.000 USD, đưa Việt Nam vào nhóm thu nhập trung bình cao. Lạm phát bình quân 4%/ năm, thấp hơn nhiều nước trong khu vực; nợ công giảm từ 44,3% xuống còn 35% GDP - một kỷ lục về kỷ luật tài khóa.

Đặc biệt, đi qua những biến động khó lường của thương mại toàn cầu năm 2025, xuất nhập khẩu lần đầu tiên cán mốc kỷ lục khoảng 920 tỷ USD. Trong đó, mắt xích quan trọng là 17 Hiệp định thương mại tự do, gắn kết kinh tế Việt Nam với hơn 60 nền kinh tế phát triển trên toàn cầu. “Nhiệm kỳ này đã chứng tỏ, kinh tế Việt Nam đủ sức chống chịu với các cú sốc từ bên ngoài” - Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính khẳng định tại “Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2025, triển vọng 2026” diễn ra vào giữa tháng 12/2025.

Hiện thực khát vọng

Theo TS. Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ, giai đoạn 2021 - 2025 ghi dấu bước phát triển vượt trội của Việt Nam về hạ tầng giao thông với quy mô triển khai lớn, tốc độ nhanh và cách tổ chức thực hiện quyết liệt. Trong vòng 5 năm, mạng lưới đường bộ cao tốc tăng mạnh từ khoảng 900 km trước năm 2020 lên hơn 3.200 km trên trục Bắc - Nam cùng hàng trăm km tuyến kết nối nút giao và đường dẫn. Nhiệm kỳ 2021 - 2025 cũng ghi nhận hàng trăm dự án đầu tư công đạt tỷ lệ giải ngân cao. Vành đai đô thị, sân bay, cảng biển và tuyến kết nối vùng được khởi công hoặc hoàn thành vượt tiến độ. Hạ tầng được đầu tư mạnh mẽ, giúp giảm chi phí logistics, thúc đẩy liên kết vùng, tạo việc làm, mở rộng không gian phát triển và tạo nền tảng quan trọng cho tăng trưởng dài hạn. Đây cũng là nền tảng quan trọng để tái cơ cấu nền kinh tế, từng bước hình thành mô hình tăng trưởng có chất lượng và tính bền vững cao trong thập niên tới.

TS. Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược

"Song hành với đầu tư hạ tầng quy mô lớn là làn sóng dịch chuyển mạnh của dòng vốn FDI vào các lĩnh vực công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ. Lần đầu tiên sau hơn 20 năm, tỷ trọng FDI công nghệ cao vượt các lĩnh vực gia công truyền thống như: dệt may, da giày, lắp ráp điện tử. Xu hướng này vừa thể hiện niềm tin của nhà đầu tư đối với triển vọng phát triển của Việt Nam, vừa cho thấy định hướng chuyển dịch từ tăng trưởng dựa vào mở rộng quy mô sang phát triển chiều sâu, lấy năng suất và đổi mới sáng tạo làm động lực", vị chuyên gia nhấn mạnh.

Nhìn lại nền tảng kinh tế vĩ mô của Việt Nam, bà Mariam J. Sherman - Giám đốc Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam - đánh giá, Việt Nam đã tạo nên câu chuyện phát triển ấn tượng và truyền cảm hứng cho thế giới. Đất nước đã chuyển mình từ một trong những quốc gia nghèo nhất thành một nền kinh tế năng động. Điều này cho thấy, những cải cách quyết liệt cùng tinh thần lao động bền bỉ của một dân tộc có thể tạo nên những kỳ tích.

Việt Nam hướng tới thực hiện 2 mục tiêu chiến lược 100 năm với mốc năm 2030, trở thành quốc gia đang phát triển công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; năm 2045 là nước phát triển, thu nhập cao. Theo bà Mariam J. Sherman, mục tiêu đến năm 2045 tuy đầy tham vọng, nhưng hoàn toàn khả thi nếu Việt Nam đáp ứng được các thách thức bằng chính sách quyết đoán và hành động mạnh mẽ.

Bà Mariam J. Sherman khuyến nghị, Việt Nam cần lạc quan và cấp thiết hành động, nhưng để thành công, cần xác định mục tiêu, lộ trình rõ ràng, nhất quán chặng đường cải cách, bất chấp rào cản và quả cảm, dũng cảm, không né tránh thách thức, khó khăn.

Mục tiêu tăng trưởng 2 con số của Việt Nam trong giai đoạn 2026 - 2030 có nền tảng, dư địa và tính khả thi. Với quyết tâm chính trị cao, hành động quyết liệt, Việt Nam sẽ biến khát vọng phát triển nhanh, bền vững thành kết quả cụ thể, vì mục tiêu đất nước giàu mạnh, Nhân dân ấm no, hạnh phúc.

Nguyên Thảo