Thúc đẩy tài chính xanh: Khai mở năng lực phát triển xanh – phát thải thấp
(Banker.vn) Với mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, tài chính xanh không chỉ là một kênh vốn mới, mà là điều kiện cần để “mở khóa” năng lực phát triển xanh phát thải thấp trong toàn bộ cấu trúc kinh tế.
Nông nghiệp phát thải thấp cho hiệu quả tài chính xanh
Ngành nông nghiệp Việt Nam đang minh chứng cho hiệu quả tài chính xanh bằng Chương trình 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long – được Ngân hàng Thế giới đồng hành, cho thấy một công thức rõ ràng giảm đầu vào, tăng lợi nhuận, giảm phát thải.
Thực tế, một triển vọng kinh tế chưa từng có khi áp dụng quy trình chuẩn (giảm giống, phân bón, tưới ngập khô xen kẽ) giúp giảm phát thải mê-tan từ 20-40% trong khi lợi nhuận tăng hơn 30%. Đây chính là nền tảng để hạt gạo Việt Nam bước vào thị trường tín chỉ carbon, nơi thu nhập bổ sung không đến từ việc tăng thêm diện tích trồng mà từ dữ liệu giảm phát thải được xác thực minh bạch qua hệ thống đo lường, báo cáo, thẩm định (MRV).
Đây chính là điểm giao thoa giữa kỹ thuật và tài chính khi hệ thống MRV được chuẩn hóa và số hóa, mỗi hec-ta ruộng có thể trở thành một “tài sản carbon".
Thị trường carbon từ tiềm năng đến hạ tầng vận hành: Sau các quyết định quan trọng tại COP29 và COP30 về Điều 6 của Thỏa thuận Paris, thị trường carbon toàn cầu bước vào giai đoạn siết chặt tính toàn vẹn. Tín chỉ giá rẻ, thiếu minh bạch đang bị đào thải; thay vào đó là yêu cầu cao về bổ sung (additionality), vĩnh viễn (permanence) và minh bạch MRV.
Điều này đặt ra yêu cầu kép cho Việt Nam (i) hoàn thiện khung pháp lý về quyền sở hữu và chuyển giao tín chỉ; (ii) xây dựng hệ thống đăng ký quốc gia tương thích quốc tế.
Chương trình CORSIA của Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế là ví dụ điển hình. Khi Vietnam Airlines tham gia CORSIA từ năm 2026, hãng buộc phải sử dụng tín chỉ được ICAO chấp thuận. Nếu tín chỉ trong nước không đạt chuẩn quốc tế, doanh nghiệp sẽ phải mua tín chỉ ngoại – đồng nghĩa dòng tiền chảy ra ngoài.
Do đó, xây dựng tín chỉ chất lượng cao không chỉ là yêu cầu môi trường mà còn là chiến lược giữ lại nguồn lực tài chính trong nước.
margin: 15px auto;" />Bài toán của dòng vốn từ “kinh tế nâu” đến động lực xanh
Hiện nay, khoảng 80-90% cấu trúc công nghiệp Việt Nam vẫn thuộc nhóm phát thải cao. Các ngành thép, xi măng, nhiệt điện, hóa chất… đều đứng trước áp lực giảm phát thải, trong khi khả năng tự tích lũy vốn cho chuyển đổi công nghệ còn hạn chế. Nếu chỉ dựa vào tiêu chí “xanh tuyệt đối” để cấp tín dụng, một bộ phận lớn doanh nghiệp sẽ bị loại khỏi dòng vốn ưu đãi.
Quyết định 21/2025/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã đặt “nền móng” cho danh mục dự án xanh. Tuy nhiên, để không tạo “khoảng trống chuyển tiếp”, Việt Nam cần một lớp chính sách bổ sung – tài chính chuyển tiếp (transition finance). Kinh nghiệm từ ASEAN với Bộ phân loại tài chính bền vững (ASEAN Taxonomy) cho thấy cơ chế “Amber Tier” (vùng vàng) là công cụ quan trọng để cấp vốn cho các dự án còn phát thải nhưng có lộ trình giảm phát thải khoa học và có thể kiểm chứng.
Nếu không thiết lập được hành lang này, nguy cơ “tài sản mắc kẹt” sẽ gia tăng: nhà máy cũ không thể nâng cấp, ngân hàng không dám cho vay, doanh nghiệp mất khả năng cạnh tranh khi cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của EU (CBAM) siết chặt.
Mở khóa năng lực phát triển xanh
Phát triển xanh phát thải thấp không đơn thuần là câu chuyện môi trường. Đó là tái cấu trúc năng lực cạnh tranh quốc gia. Khi chuỗi cung ứng toàn cầu đặt điều kiện ESG ngày càng khắt khe, doanh nghiệp Việt Nam chỉ có hai lựa chọn thích nghi hoặc bị loại khỏi thị trường.
Tài chính xanh, nếu được thiết kế đúng sẽ trở thành “đòn bẩy kép” vừa huy động nguồn lực quốc tế, vừa nâng cấp cấu trúc sản xuất trong nước. Quan trọng hơn, nó tạo ra một công cụ chung giữa môi trường và thị trường – nơi mỗi tấn carbon giảm được không chỉ là con số trong báo cáo, mà là giá trị kinh tế cụ thể.
Như kinh nghiệm từ nông nghiệp phát thải thấp đã cho thấy, khi kỹ thuật đúng, chính sách rõ và tài chính đủ mạnh, chuyển đổi xanh không làm giảm tăng trưởng – ngược lại còn gia tăng lợi nhuận và vị thế thị trường.
Trong cuộc đua toàn cầu về tài chính xanh, người đi trước sẽ thiết lập tiêu chuẩn. Và người thiết lập tiêu chuẩn sẽ nắm lợi thế dài hạn.
Nhiều năm qua, tài chính xanh tại Việt Nam chủ yếu được hiểu là trái phiếu xanh hoặc tín dụng ưu đãi cho năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, cấu trúc tài chính xanh hiệu quả phải gồm 4 lớp: Tín dụng xanh truyền thống – dành cho dự án đạt chuẩn; tài chính chuyển tiếp – hỗ trợ ngành nâu giảm dần phát thải; tài chính carbon – thương mại hóa phần giảm phát thải; tài chính hỗn hợp (blended finance) – kết hợp vốn công, vốn tư và vốn viện trợ để chia sẻ rủi ro.
Trong cấu trúc này, vốn công đóng vai trò “mồi” để kéo vốn tư nhân. Các quỹ khí hậu, tổ chức đa phương như UNDP có thể hỗ trợ xây dựng hệ thống đăng ký, chuẩn hóa MRV, nhưng dòng vốn dài hạn hàng tỷ USD chỉ có thể đến từ khu vực tư nhân. Nguyên tắc ở đây rất rõ dòng tiền chảy về nơi có khung pháp lý ổn định và rủi ro chính sách thấp.
Giải pháp tập trung vào khả năng áp dụng cao
Để tài chính xanh thực sự khai mở năng lực phát triển xanh phát thải thấp, PGS,TS. Nguyễn Anh Phong, Trưởng khoa Tài chính Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế - Luật TP. Hồ Chí Minh chia sẻ các giải pháp:
Thứ nhất, hoàn thiện “Danh mục chuyển tiếp” trong năm 2026. Bổ sung phụ lục chuyển tiếp vào Quyết định 21/2025/QĐ-TTg, quy định rõ tiêu chí định lượng cho ngành thép, xi măng, điện than, hóa chất. Tiêu chí phải gắn với lộ trình giảm phát thải theo NDC và tương thích ASEAN Taxonomy.
Thứ hai, ban hành Nghị định về trái phiếu chuyển tiếp và trái phiếu liên kết bền vững. Cho phép doanh nghiệp phát hành với điều kiện công bố mục tiêu giảm phát thải rõ ràng, có cơ chế phạt lãi suất nếu không đạt KPI môi trường. Điều này vừa tạo áp lực thị trường, vừa đảm bảo minh bạch.
Thứ ba, số hóa hệ thống MRV quốc gia. Thiết lập “nền tảng” số tích hợp dữ liệu vệ tinh, IoT, AI và Blockchain để quản lý tín chỉ carbon. Đây là điều kiện tiên quyết để tín chỉ Việt Nam được công nhận theo Điều 6.4.
Thứ tư, ưu tiên mua tín chỉ trong nước. Thiết kế cơ chế cho doanh nghiệp có nghĩa vụ giảm phát thải được ưu tiên mua tín chỉ nội địa trước khi mua quốc tế, nhằm củng cố thị trường trong nước.
Thứ năm, cơ chế chia sẻ lợi ích minh bạch. Quy định tỷ lệ phân bổ lợi ích rõ ràng giữa Nhà nước – doanh nghiệp – cộng đồng địa phương trong các dự án rừng và nông nghiệp carbon. Cơ chế minh bạch sẽ nâng giá trị tín chỉ và thu hút nhà đầu tư.
Thứ sau, xây dựng Quỹ bảo lãnh chuyển đổi xanh. Quỹ này có thể bảo lãnh một phần rủi ro cho dự án chuyển đổi công nghệ của doanh nghiệp phát thải cao, giảm áp lực cho ngân hàng thương mại.
Khi các trụ cột này được thiết lập, tài chính xanh mới thực sự trở thành động lực khai mở năng lực phát triển xanh phát thải thấp – không chỉ giúp Việt Nam thực hiện cam kết khí hậu, mà còn nâng cấp cấu trúc tăng trưởng, gia tăng sức cạnh tranh và thu hút dòng vốn dài hạn.
ThS.Trần Trọng Triết – ThS. Trần Phan Bửu Tùng

