Tóm tắt: Sau 40 năm đổi mới, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã chuyển đổi căn bản từ mô hình một cấp sang hai cấp, đóng vai trò trung tâm trong ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước. Bài viết này phân tích tiến trình hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam qua các giai đoạn cải cách, làm rõ những thành tựu nổi bật và thách thức trong từng giai đoạn. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng phát triển hệ thống ngân hàng trong kỷ nguyên số, với trọng tâm là tín dụng xanh, chuyển đổi số, qua đó khẳng định vai trò trụ cột của ngành Ngân hàng trong hành trình đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển nhanh, bền vững.

Từ khóa: Đổi mới, hệ thống ngân hàng, kỷ nguyên số, phát triển bền vững.

ACHIEVEMENTS AFTER 40 YEARS OF RENOVATION AND THE DEVELOPMENT ORIENTATION
OF VIETNAM’S BANKING SYSTEM IN THE DIGITAL ERA

Abstract: After 40 years of renovation, Vietnam’s banking system has undergone a fundamental transformation from a single-tier model to a two-tier system, playing a central role in macroeconomic stability, inflation control, and the promotion of national economic growth. This article analyzes the formation and development of Vietnam’s banking system through different stages of reform, highlighting major achievements and challenges in each period. On that basis, the article proposes development orientations for the banking system in the digital era, with a focus on green credit and digital transformation, thereby affirming the banking sector’s role as a key pillar in Vietnam’s journey toward fast and sustainable development.

Keywords: Renovation, banking system, digital era, sustainable development.

1. Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam

Lịch sử hình thành, phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam phản ánh trực tiếp tiến trình vận động và tư duy kinh tế của Đảng qua các kỳ Đại hội từ sau Cách mạng tháng Tám. Ngay từ giai đoạn 1945 - 1954, khi nền tài chính quốc gia bắt đầu hình thành, tư duy chi phối hoạt động ngân hàng gắn chặt với mục tiêu bảo vệ nền độc lập chính trị và chủ quyền tiền tệ. Sắc lệnh số 15/SL ngày 06/5/1951 của Chủ tịch nước về việc thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam - tiền thân của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thể hiện rõ nhận thức coi tiền tệ là công cụ trung tâm phục vụ kháng chiến và kiến quốc, đặt nền móng cho một thiết chế tài chính thống nhất dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Nhà nước.

Trong giai đoạn đất nước bị chia cắt (1954 - 1975), hệ thống ngân hàng miền Bắc vận hành theo định hướng phục vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, tập trung cấp vốn cho công nghiệp nặng và nông nghiệp tập thể. Những cải cách tài chính đặc thù như Quỹ ngoại tệ đặc biệt B29 hay Ban Tài chính đặc biệt N2683 cho thấy khả năng linh hoạt của hệ thống ngân hàng trong điều kiện chiến tranh, phản ánh tư duy coi tài chính là công cụ chiến lược của cách mạng Việt Nam.

Sau khi đất nước thống nhất, giai đoạn 1975 - 1985 chứng kiến việc duy trì mô hình ngân hàng một cấp trong điều kiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung. NHNN vừa thực hiện chức năng quản lý vừa thực hiện cấp phát vốn theo chỉ tiêu hành chính. Tuy nhiên, việc coi ngân hàng như thủ quỹ của ngân sách đã triệt tiêu các tín hiệu thị trường, tạo nên sự mất cân đối vĩ mô như GDP tăng trưởng khiêm tốn, trong khi đó lạm phát tăng cao… qua đó tạo tiền đề cho yêu cầu đổi mới tư duy tại Đại hội Đảng lần thứ VI (Hình 1).

margin: 15px auto;" />

Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đánh dấu bước ngoặt căn bản trong nhận thức về vai trò của thị trường và hệ thống tài chính. Nghị định số 53-HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng về tổ chức bộ máy NHNN cùng các Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 khẳng định quan điểm đổi mới tư duy, tách bạch chức năng quản lý tiền tệ và chức năng kinh doanh ngân hàng. Mô hình hai cấp hình thành với NHNN giữ vai trò ngân hàng trung ương, các ngân hàng thương mại (NHTM) hoạt động theo nguyên tắc hạch toán, phù hợp với định hướng phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần được xác lập tại Đại hội Đảng lần thứ VI và được củng cố tại Đại hội Đảng lần thứ VII. Đặc biệt, quan hệ với Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và WB được khôi phục năm 1993 mở ra kênh vốn quốc tế quan trọng, thúc đẩy hiện đại hóa hạ tầng tài chính Việt Nam (IMF, 1996).

Giai đoạn từ sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 đặt hệ thống ngân hàng Việt Nam trước phép thử đầu tiên trong môi trường hội nhập khu vực. Mặc dù mức độ mở cửa tài khoản vốn còn hạn chế, áp lực tỉ giá và tình trạng nợ xấu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước bộc lộ rõ. Đại hội Đảng lần thứ VIII và IX phản ánh sự điều chỉnh tư duy, nhấn mạnh nhiệm vụ lành mạnh hóa tài chính quốc gia. Luật NHNN năm 1997 và Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 tạo khung pháp lý tiệm cận kinh tế thị trường, đặt nền móng cho quá trình đa dạng hóa kênh huy động vốn và hình thành thị trường chứng khoán.

Việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007 đưa hệ thống ngân hàng vào giai đoạn tăng trưởng nhanh chưa từng có. Tín dụng mở rộng mạnh mẽ, phản ánh kỳ vọng cao vào hội nhập quốc tế. Cảnh báo của IMF về rủi ro bong bóng tài sản và lạm phát cho thấy khoảng cách giữa tốc độ mở rộng tín dụng và năng lực quản trị rủi ro nội tại (IMF, 2007). Hệ quả của giai đoạn này là bất ổn vĩ mô năm 2011, buộc Đại hội Đảng lần thứ XI phải điều chỉnh ưu tiên sang ổn định kinh tế và tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. Đặc biệt, Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) được thành lập năm 2013 cho thấy cách tiếp cận xử lý nợ xấu mang tính chuyển tiếp, tạo dư địa cho phục hồi hệ thống.

Trong giai đoạn 2016 - 2020, tư duy điều hành hoạt động ngân hàng đã chuyển mạnh sang định hướng ổn định dài hạn. Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu và Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 08/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng, góp phần tăng cường năng lực xử lý nợ xấu, củng cố an toàn hệ thống và nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng. Đồng thời, các bước chuẩn bị triển khai Basel II, Basel III cho thấy sự tiệm cận ngày càng rõ nét với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế.

Giai đoạn 2021 - 2025 đặt hệ thống ngân hàng trước thách thức chưa từng có từ đại dịch Covid-19 và những biến động toàn cầu. Định hướng Đại hội Đảng lần thứ XIII coi ổn định vĩ mô là nền tảng đã được cụ thể hóa thông qua điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt. Kiểm soát lạm phát trong bối cảnh thế giới biến động mạnh phản ánh năng lực điều phối chính sách ngày càng trưởng thành của NHNN. Quá trình xử lý ngân hàng yếu kém và các vụ việc vi phạm nghiêm trọng cho thấy quyết tâm làm sạch hệ thống, đồng thời đặt ra yêu cầu chuyển đổi sang giám sát dựa trên dữ liệu và công nghệ. Đặc biệt, định hướng phát triển giai đoạn sau năm 2025 với trọng tâm là tài chính xanh, chuyển đổi số và hội nhập sâu rộng tiếp tục khẳng định vai trò của ngành Ngân hàng là trụ cột dẫn dắt tăng trưởng kinh tế bền vững.

Bảng 1 khái quát chiến lược phát triển ngành Ngân hàng qua một số giai đoạn gắn với định hướng chỉ đạo của các kỳ Đại hội Đảng, thể hiện nhất quán tư duy về phát triển kinh tế - xã hội và điều hành vĩ mô của Đảng, đồng thời phản ánh rõ sự chuyển dịch từ mô hình quản lý hành chính sang quản trị theo nguyên tắc thị trường và tiệm cận các chuẩn mực quốc tế.

2. Thành tựu và thách thức đối với hệ thống ngân hàng trong giai đoạn 2021 - 2025

Giai đoạn 2021 - 2025 đặt hệ thống ngân hàng Việt Nam trước sức ép lớn nhất kể từ sau đổi mới, khi môi trường kinh tế toàn cầu biến động mạnh do đại dịch Covid-19, xung đột địa chính trị và chu kỳ thắt chặt tiền tệ lan rộng. Định hướng Đại hội Đảng lần thứ XIII xác lập ổn định kinh tế vĩ mô là trụ cột then chốt đã tạo cơ sở tư duy cho điều hành chính sách tiền tệ mang tính linh hoạt cao. NHNN triển khai các công cụ điều tiết cung tiền, lãi suất và tỉ giá với cường độ điều chỉnh nhanh, phản ánh mức độ trưởng thành rõ rệt của năng lực điều hành so với các giai đoạn khủng hoảng trước đó.

Kết quả kiểm soát lạm phát giai đoạn 2021 - 2025 trong khoảng 1,84 - 3,63%, thể hiện hiệu quả phối hợp chính sách giữa tiền tệ và tài khóa, trong đó các biện pháp giảm thuế, phí đóng vai trò hỗ trợ cầu nội địa, còn chính sách tiền tệ duy trì định hướng thận trọng nhằm hạn chế rủi ro kỳ vọng lạm phát lan rộng theo xu hướng toàn cầu (IMF, 2025).

Năm 2023 đánh dấu bước đi mang tính lựa chọn chiến lược khi NHNN chủ động giảm lãi suất điều hành bốn lần với tổng biên độ 0,5 - 2,0%, trái ngược xu hướng tăng lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed). Quyết định này chấp nhận áp lực điều chỉnh tỉ giá trong ngắn hạn nhằm ưu tiên duy trì dòng vốn tín dụng cho khu vực sản xuất, kinh doanh. Đến năm 2025, tăng trưởng GDP đạt 8,02% cùng mức lạm phát 3,21% phản ánh hiệu quả của định hướng ưu tiên kinh tế thực, đồng thời khẳng định vai trò trung tâm của chính sách tiền tệ trong điều tiết chu kỳ kinh tế tại Việt Nam (IMF, 2025).

Song song điều hành vĩ mô, tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng trở thành nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng. Kết quả tái cơ cấu thể hiện rõ qua quá trình chuyển giao bắt buộc các ngân hàng yếu kém như: Chuyển giao NHTM Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Xây dựng Việt Nam (CB) cho NHTM cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank); NHTM Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Đại Dương (OceanBank) cho NHTM cổ phần Quân đội (MB).

Bên cạnh đó, chuyển dịch tín dụng xanh trở thành điểm nhấn cấu trúc của giai đoạn 2021 - 2025, gắn với cam kết Net Zero năm 2050 tại COP26. Dư nợ tín dụng xanh đạt khoảng 750.000 tỉ đồng vào cuối năm 2025 cho thấy thay đổi rõ rệt về định hướng phân bổ vốn (NHNN, 2025). Gói hỗ trợ lãi suất 2% cho các dự án năng lượng tái tạo, nông nghiệp bền vững và công nghệ môi trường phản ánh vai trò dẫn dắt của chính sách công trong điều chỉnh dòng vốn theo mục tiêu phát triển dài hạn. Xu hướng này phù hợp với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, nhấn mạnh hiệu quả công nghệ và giảm phụ thuộc tài nguyên.

Đặc biệt, chuyển đổi số và hạ tầng thanh toán ghi nhận tốc độ lan tỏa nhanh nhất trong lịch sử ngành Ngân hàng. Đề án 06 về dữ liệu dân cư tạo nền tảng cho triển khai eKYC trên diện rộng, góp phần nâng tỉ lệ giao dịch số hóa vượt 90% tại nhiều ngân hàng. Thanh toán không dùng tiền mặt phát triển mạnh thông qua QR Code và nền tảng di động, phản ánh sự hội tụ giữa công nghệ tài chính (Fintech) và nhu cầu tiêu dùng số của xã hội. IMF đánh giá cao khả năng chống chịu của kinh tế Việt Nam trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời ghi nhận tiến bộ rõ rệt trong năng lực điều hành chính sách tiền tệ của NHNN (IMF, 2024).

3. Định hướng phát triển chiến lược trong kỷ nguyên xanh và kỷ nguyên số

Văn kiện Đại hội XIV khẳng định giai đoạn 2026 - 2030 là bản lề để Việt Nam bước sang nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao. Tư duy phát triển hệ thống ngân hàng chuyển dịch rõ rệt từ cách tiếp cận quản lý dựa trên mệnh lệnh hành chính sang mô hình quản trị quốc gia dựa trên kiến tạo, dẫn dắt và chuẩn mực, mở ra yêu cầu điều chỉnh sâu sắc về công cụ điều hành, trong đó vai trò của các biện pháp thị trường và các chuẩn mực an toàn vốn quốc tế được đề cao. Các công cụ mang tính hành chính như trần tín dụng hay trần lãi suất được xem xét thu hẹp dần, nhường chỗ cho khuôn khổ điều hành dựa trên quản trị rủi ro, minh bạch thông tin và kỷ luật thị trường, phù hợp với định hướng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được khẳng định trong các văn kiện trình Đại hội Đảng lần thứ XIV.

Việt Nam cũng định hướng hình thành Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh với cơ chế thử nghiệm chính sách vượt trội, hướng tới thu hút các định chế tài chính toàn cầu về Fintech và tài chính xanh. Trung tâm tài chính quốc tế là hạt nhân kết nối thị trường tài chính Việt Nam với mạng lưới khu vực, góp phần nâng cao vị thế quốc gia trong chuỗi giá trị tài chính châu Á.

Ngoài ra, chuyển đổi xanh là chiến lược dài hạn của ngành Ngân hàng trong thập kỷ tới. Kế hoạch hành động quốc gia về kinh tế tuần hoàn được ban hành theo Quyết định số 222/QĐ-TTg ngày 23/01/2025 của Thủ tướng Chính phủ đã xác định rõ nhu cầu vốn rất lớn cho năng lượng tái tạo, điện từ chất thải, tiết kiệm năng lượng và nâng cao hiệu quả tài nguyên. Ngành Ngân hàng được giao vai trò trung tâm trong huy động và phân bổ nguồn lực thông qua các công cụ tài chính mới như trái phiếu xanh và tín dụng chuỗi cung ứng bền vững.

Chuyển đổi số tiếp tục là trụ cột không thể tách rời của quá trình hiện đại hóa ngân hàng. Chiến lược phát triển Ngành đến năm 2030 đặt mục tiêu số hóa toàn diện quy trình nghiệp vụ, khai thác trí tuệ nhân tạo trong chấm điểm tín dụng nhằm mở rộng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Dữ liệu là tài sản chiến lược giúp thay đổi căn bản mô hình kinh doanh ngân hàng, từ trung gian tài chính truyền thống sang nền tảng dịch vụ tài chính số. Nghiên cứu và triển khai tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương (CBDC) là bước đi chiến lược nhằm bảo vệ chủ quyền tiền tệ trong không gian số. Nghiên cứu về kinh nghiệm quốc tế cho thấy CBDC nâng cao hiệu quả thanh toán bán lẻ và hỗ trợ thực thi chính sách tiền tệ thông qua khả năng truyền dẫn nhanh và chính xác hơn (Nguyễn Đình Thọ, 2025). Đối với Việt Nam, CBDC được đặt trong mối liên hệ trực tiếp với yêu cầu phòng ngừa rủi ro từ các loại tiền kỹ thuật số tư nhân, đồng thời tăng cường khả năng quản lý dòng tiền trong nền kinh tế số đang phát triển nhanh.

Đặc biệt, định hướng vươn ra khu vực ASEAN tiếp tục được cụ thể hóa thông qua mục tiêu nâng cao quy mô và năng lực cạnh tranh của các NHTM. Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng đến năm 2030 nhấn mạnh yêu cầu hình thành các định chế có quy mô tài sản lớn, quản trị theo chuẩn mực

Basel II, Basel III và đủ năng lực cung ứng dịch vụ xuyên biên giới. Kiểm soát đô la hóa tiếp tục được xác định là trụ cột của ổn định tiền tệ, với mục tiêu đưa tỉ lệ tiền gửi ngoại tệ xuống dưới 5% và chuyển hẳn sang quan hệ mua - bán ngoại tệ theo cơ chế thị trường, qua đó củng cố niềm tin vào đồng Việt Nam. Trong bối cảnh tăng trưởng xuất khẩu đối mặt nhiều bất định, IMF nhấn mạnh trọng tâm tái cơ cấu thể chế gắn với ổn định khu vực tài chính. Đồng thời, việc tuân thủ các chuẩn mực về phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố được coi là điều kiện tiên quyết để hệ thống ngân hàng Việt Nam duy trì kết nối với mạng lưới tài chính toàn cầu, đặc biệt trong bối cảnh dòng vốn quốc tế dịch chuyển nhanh và khó lường (IMF, 2025).

4. Kết luận

Sau 40 năm đổi mới, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có bước chuyển đổi căn bản, từ mô hình quản lý hành chính sang vận hành theo nguyên tắc thị trường, từng bước tiệm cận các chuẩn mực quốc tế và khẳng định vai trò trụ cột trong ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng. Trong kỷ nguyên mới, với trọng tâm là chuyển đổi số, tài chính xanh và hội nhập sâu rộng, ngành Ngân hàng tiếp tục giữ vai trò trung tâm trong huy động, phân bổ nguồn lực cho phát triển kinh tế, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao trong khu vực và toàn cầu.

Tài liệu tham khảo:

1. IMF (1996 - 2025), Vietnam: Article IV Consultation: Staff Report, International Monetary Fund.

2. Nguyễn Đình Thọ (2025), Nghiên cứu triển khai CBDC: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách, Tạp chí Ngân hàng, https://tapchinganhang.gov.vn/nghien-cuu-trien-khai-tien-ky-thuat-so-ngan-hang-trung-uong-kinh-nghiem-quoc-te-va-ham-y-chinh-sach-16805.html

3. Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg ngày 04/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh.

4. Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 08/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

5. Soo-Nam Oh (1998), Financial deepening in the banking sector -Viet Nam, Asian Development Bank.

6. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam.

PGS.,TS. Nguyễn Đình Thọ
Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường - Bộ Nông nghiệp và Môi trường