- Doanh nghiệp Việt mở rộng dấu ấn thương hiệu ở nước ngoài
- Kiều bào Việt Nam ở nước ngoài hướng về Đại hội Đảng quê hương
- Tổng kết công tác phát triển thị trường nước ngoài năm 2025
Ưu tiên thúc đẩy xuất khẩu "sản phẩm xanh"
Năm 2025, công tác phát triển thị trường nước ngoài đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, khi tăng trưởng GDP đạt đến 8,02%; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt trên 930 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm 2024, thặng dư thương mại đạt 20 tỷ USD.
Với đà tăng trưởng trên, năm 2026 Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế đạt hai con số, vì vậy, thách thức đặt ra cho công tác phát triển thị trường nước ngoài, nâng tầm ngoại thương là vô cùng lớn; nhiệm vụ không còn nằm ở việc “giữ đà” mà là kiến tạo thêm động lực mới.
Trong bối cảnh kinh tế - thương mại toàn cầu nhiều biến động, xung đột địa chính trị kéo dài, chuỗi cung ứng tái cấu trúc và xu hướng bảo hộ gia tăng, phát triển thị trường nước ngoài không thể chỉ là xúc tiến thương mại, đi theo cách truyền thống.
margin: 15px auto;" />Ưu tiên mang tính xuyên suốt trong năm 2026 của công tác phát triển thị trường nước ngoài là thúc đẩy "xuất khẩu xanh" và phát triển thương mại bền vững. Ảnh: Nguyên Hưng
Ông Đỗ Quốc Hưng, Quyền Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường nước ngoài (Bộ Công Thương) thẳng thắn nhìn nhận, nhiệm vụ năm 2026 của công tác phát triển thị trường nước ngoài là phải giữ vai trò “dẫn đường”, mở thêm không gian tăng trưởng mới, đồng thời củng cố nền tảng bền vững cho xuất khẩu.
Một trong nhiều nhiệm vụ trọng tâm của công tác này đó là việc duy trì đà tăng trưởng bền vững tại các thị trường chủ lực, truyền thống; đồng thời mở rộng sang các thị trường tiềm năng như: Trung Đông, Nam Á, châu Phi, Mỹ Latinh. Đây là những khu vực có mức độ cạnh tranh chưa quá cao, nhưng lại đòi hỏi doanh nghiệp phải hiểu sâu về tập quán kinh doanh, hệ thống logistics và rủi ro tín dụng. Không am hiểu thị trường, cơ hội sẽ biến thành rủi ro.
Đáng lưu ý, lãnh đạo Vụ Phát triển thị trường thị trường nước ngoài cho biết, một ưu tiên mang tính xuyên suốt trong năm 2026 của công tác phát triển thị trường nước ngoài là thúc đẩy "xuất khẩu xanh" và phát triển thương mại bền vững. Bởi hiện nay, các thị trường lớn đang đồng loạt siết chặt quy định liên quan đến phát thải carbon, tiêu chuẩn lao động, trách nhiệm chuỗi cung ứng.
Từ 1/1/2026, Liên minh châu Âu chính thức vận hành Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM). Theo đó, hàng hóa nhập khẩu vào EU phải khai báo và chịu chi phí phát thải carbon tương đương với hàng sản xuất nội khối. Mục tiêu là ngăn chặn “rò rỉ carbon” - hiện tượng doanh nghiệp dịch chuyển sản xuất sang quốc gia có tiêu chuẩn môi trường thấp hơn.
Khoảng 11 nhóm ngành hàng của Việt Nam có thể chịu tác động trực tiếp và gián tiếp. Trong đó, nhôm, xi măng, sắt thép, hóa chất chịu ảnh hưởng trực tiếp; trong khi điện tử, dệt may, thực phẩm chế biến, giấy, nhựa... bị tác động thông qua chuỗi cung ứng. Xu hướng này không dừng lại ở EU. Vương quốc Anh dự kiến triển khai cơ chế tương tự từ năm 2027.

Liên minh châu Âu ngày càng ưu tiên các sản phẩm xanh hóa. Ảnh: Hùng Anh
Bên cạnh đó, EU cũng đang chuẩn bị mở rộng sang phiên bản CBAM 2.0, bao gồm các sản phẩm hạ nguồn như: máy móc, thiết bị, phương tiện sử dụng thép và nhôm. Song song đó là các quy định như CSRD - Chỉ thị Báo cáo phát triển bền vững và Chỉ thị Thẩm định bền vững doanh nghiệp, yêu cầu minh bạch chuỗi cung ứng và lộ trình giảm phát thải.
Từ thị trường sở tại, ông Trần Ngọc Quân - Tham tán thương mại, Trưởng Thương vụ Việt Nam tại Bỉ và EU cảnh báo: Năm 2026, EU sẽ tăng cường kiểm tra cửa khẩu, an toàn thực phẩm, điều tra chống bán phá giá và tự vệ, đặc biệt với ngành thép. Điều này cho thấy xuất khẩu không còn đơn thuần là bài toán giá cả và thị phần, mà là bài toán tuân thủ và năng lực chuyển đổi.
Chuyển đổi mô hình sản xuất
Để không bị đứng ngoài "cuộc chơi" mới, doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu trong nước buộc phải chuyển đổi mô hình sản xuất theo hướng tuần hoàn, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải.
Thông tin tới phóng viên Báo Công Thương, bà Nguyễn Hoàng Thúy - Tham tán thương mại tại Thụy Điển kiêm nhiệm Bắc Âu cho biết, chuyển đổi xanh đã trở thành yêu cầu bắt buộc trong chiến lược đầu tư của EU. Các quy định về truy xuất nguồn gốc, kinh tế tuần hoàn, phát thải đang buộc doanh nghiệp xanh hóa toàn bộ chuỗi sản xuất, từ nguyên liệu đầu vào đến sản phẩm cuối cùng.
Trong bối cảnh đó, những dự án đầu tư vào tái chế vật liệu mới nổi lên như một hướng đi chiến lược. Điển hình là dự án của Syre - doanh nghiệp Thụy Điển phát triển mô hình tái chế polyester tuần hoàn. Nếu triển khai thành công tại Việt Nam, dự án không chỉ giúp giảm phát thải mà còn hình thành nguồn nguyên liệu tuần hoàn đạt chuẩn bền vững, nâng cao giá trị gia tăng cho ngành dệt may.
“Đây không chỉ là câu chuyện công nghệ. Đó là câu chuyện tái cấu trúc chuỗi cung ứng. Khi nguyên liệu đầu vào được “xanh hóa”, sản phẩm xuất khẩu sẽ đáp ứng tiêu chuẩn cao hơn, giảm nguy cơ bị loại khỏi thị trường”, bà Nguyễn Hoàng Thúy nhận định.
Ở góc độ quản lý nhà nước, ông Đỗ Quốc Hưng cũng nhấn mạnh đến giải pháp phát triển các cụm sản xuất xanh - khu xuất khẩu xanh (Green Export Zones). Mục tiêu là tạo không gian sản xuất đáp ứng đồng bộ tiêu chuẩn môi trường, phát thải và lao động của các thị trường lớn.
Đáng chú ý là đề xuất xây dựng “Bộ tiêu chuẩn liên quốc gia” với EU và Anh, giúp doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận tiêu chuẩn ngay từ khâu thiết kế sản phẩm. Nếu thực hiện được, đây sẽ là bước đột phá: thay vì chạy theo tiêu chuẩn, doanh nghiệp sẽ chủ động tích hợp tiêu chuẩn vào chuỗi sản xuất.
Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng hai con số, xuất khẩu vẫn là động lực then chốt. Nhưng động lực này chỉ bền vững khi dựa trên nền tảng xanh, minh bạch và có khả năng thích ứng với luật chơi mới.
"Xuất khẩu xanh" với bản chất là xuất khẩu các sản phẩm thân thiện với môi trường và bền vững đang ngày càng trở thành xu hướng quan trọng trên toàn cầu và với Việt Nam. Trong bối cảnh thế giới đang đối mặt với những thách thức nghiêm trọng về biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường, phát triển "xuất khẩu xanh" không chỉ giúp Việt Nam nâng cao giá trị sản phẩm, khẳng định cam kết của quốc gia đối với việc bảo vệ môi trường mà còn hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

