Tóm tắt: Năm 2025 đánh dấu giai đoạn triển khai chuyển đổi xanh tại Việt Nam thông qua việc ban hành các chính sách về kinh tế tuần hoàn và phân loại xanh. Trong bối cảnh rủi ro khí hậu gia tăng, biến đổi khí hậu được dự báo sẽ gây suy giảm đáng kể sản lượng và tác động tiêu cực đến GDP trong dài hạn, qua đó đe dọa mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045. Trước thách thức này, tài chính xanh trong lĩnh vực nông nghiệp đang được mở rộng nhanh chóng, trong đó các NHTM giữ vai trò chủ đạo. Việc chuẩn hóa phân loại xanh, tăng cường quản lý rủi ro môi trường - xã hội và phát triển các công cụ tài chính phù hợp là những điều kiện then chốt để bảo đảm tài chính xanh thực sự trở thành động lực cho phát triển bền vững.
Từ khóa: Tài chính xanh, phát triển bền vững, biến đổi khí hậu.
GREEN FINANCE DEVELOPMENT IN THE AGRICULTURAL SECTOR:
2025 OUTCOMES AND POLICY IMPLICATIONS FOR THE BANKING SYSTEM IN 2026
Abstract: The year 2025 marks a significant phase in Vietnam’s green transition, characterized by the issuance of policies on the circular economy and green taxonomy. Amid rising climate risks, climate change is projected to substantially reduce output and exert adverse effects on long-term GDP, posing a threat to the country’s high-income target by 2045. In response to these challenges, green finance in agriculture has expanded rapidly, with commercial banks playing a central role. Standardizing the green taxonomy, strengthening environmental and social risk management, and developing appropriate financial instruments are key prerequisites to ensuring that green finance becomes a driving force for sustainable development.
Keywords: Green finance, sustainable development, climate change.
Năm 2025, quá trình chuyển đổi xanh tại Việt Nam diễn ra mạnh mẽ với việc Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 222/QĐ-TTg ngày 23/01/2025 ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện kinh tế tuần hoàn đến năm 2035, cùng Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg ngày 04/7/2025 quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh. Các văn bản này tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho phát triển kinh tế tuần hoàn và tài chính xanh.
Trong bối cảnh đó, phát triển tài chính xanh trong nông nghiệp Việt Nam gắn chặt với quá trình hoàn thiện thể chế và mở rộng quy mô tín dụng. Tổng dư nợ tín dụng xanh toàn hệ thống đạt khoảng 750 nghìn tỉ đồng, với tốc độ tăng trưởng bình quân 21,2%/năm trong giai đoạn 2017 - 2024. Đến ngày 30/9/2025, dư nợ tín dụng xanh đạt khoảng 743,7 nghìn tỉ đồng, tăng 9,37% so với năm 2024 (ước đến cuối năm 2025 đạt 770 nghìn tỉ đồng, tăng 14,6%). Các NHTM cung ứng khoảng 88% nguồn vốn tín dụng xanh, trong đó lĩnh vực nông nghiệp và lâm nghiệp chiếm gần 45% tổng dư nợ, phản ánh xu hướng ưu tiên các ngành tạo giá trị dài hạn và góp phần giảm phát thải.
Để bảo đảm tài chính xanh trở thành động lực ổn định cho phát triển nông nghiệp và hệ thống ngân hàng, cần tiếp tục chuẩn hóa hệ thống phân loại xanh, tăng cường quản lý rủi ro môi trường - xã hội, phát triển các mô hình tài chính hỗn hợp và quỹ bảo lãnh tín dụng xanh, đồng thời đẩy mạnh tích hợp công nghệ số trong hoạt động tài chính - ngân hàng.
1. Bối cảnh biến đổi khí hậu và tác động đến suy thoái đất, sản xuất nông nghiệp
Phát triển tài chính xanh gắn với lĩnh vực nông nghiệp trong năm 2025 phản ánh rõ nét sức ép ngày càng gia tăng của biến đổi khí hậu đối với cấu trúc kinh tế. Theo Germanwatch, Việt Nam nằm trong nhóm 15 quốc gia chịu rủi ro khí hậu cao nhất giai đoạn 2000 - 2019, với mức độ tổn thương thể hiện qua tần suất thiên tai dày đặc, cường độ các hiện tượng cực đoan gia tăng và phạm vi tác động ngày càng lan rộng (Eckstein, Künzel và Schäfer, 2021). Riêng năm 2025, thiên tai gây thiệt hại ước khoảng 100.000 tỉ đồng, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, hệ thống giao thông, đô thị và khu công nghiệp. Các cú sốc khí hậu lặp lại làm gián đoạn chuỗi cung ứng, suy giảm năng suất lao động và gia tăng chi phí phục hồi kinh tế.
Theo ước tính của Ngân hàng Thế giới (2022), sản lượng quốc gia của Việt Nam có thể giảm 9,1% vào năm 2030 và 12,5% vào năm 2050, kéo theo nguy cơ gia tăng bất bình đẳng và cản trở tiến trình giảm nghèo. Trong trường hợp thiếu các biện pháp thích ứng hiệu quả, tăng trưởng GDP thực giai đoạn 2025 - 2050 có nguy cơ giảm trung bình 0,33 điểm phần trăm mỗi năm, tạo áp lực lớn lên mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045. Những con số này cho thấy chi phí kinh tế tích lũy của biến đổi khí hậu đã vượt xa khả năng bù đắp của mô hình tăng trưởng truyền thống dựa nhiều vào khai thác tài nguyên.
Tổn thất phát sinh từ các cú sốc khí hậu kết hợp với suy thoái tự nhiên ngày càng vượt quá lợi ích ngắn hạn do tăng trưởng truyền thống mang lại. Hệ sinh thái là nền tảng của mọi hoạt động kinh tế, đang bị suy giảm nhanh hơn tốc độ phục hồi. Vốn tự nhiên bao gồm đất đai, rừng, nguồn nước và thủy sản, tương tác chặt chẽ với vốn con người và vốn sản xuất để hình thành năng lực tạo giá trị dài hạn. Các hệ sinh thái đóng vai trò điều tiết chu trình nước, đất và khí hậu, duy trì đa dạng sinh học, từ đó giảm thiểu rủi ro thiên tai và ổn định năng suất. Khi cấu trúc sinh thái suy yếu, nền kinh tế đối mặt với biến động lớn hơn, năng suất giảm sâu và chi phí vốn gia tăng.
Tuy nhiên, vốn tự nhiên, đặc biệt là các giá trị phi thị trường hiếm khi được phản ánh đầy đủ trong chỉ tiêu GDP hay các mô hình định giá tín dụng ngân hàng truyền thống, dù vai trò kiểm soát rủi ro mang tính quyết định đối với ổn định kinh tế. Việc thiếu hạch toán vốn tự nhiên, nhất là đối với đất đai, dẫn tới tín hiệu giá bị bóp méo và phân bổ nguồn lực kém hiệu quả. Đất suy thoái, rừng mất chức năng điều tiết và nguồn nước cạn kiệt kéo theo chi phí khắc phục tăng cao, rủi ro tín dụng gia tăng và tạo áp lực điều chỉnh lên lãi suất thực.
Trên phạm vi toàn cầu, số liệu của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc - UNEP (2023) và Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu - UNFCCC (2024) cho thấy các hiện tượng thời tiết cực đoan đã gây thiệt hại cho kinh tế thế giới hơn 2.000 tỉ USD trong thập kỷ qua, với mức tổn thất trung bình trên 300 tỉ USD mỗi năm. Theo Sáng kiến Kinh tế về Suy thoái đất phối hợp với Công ước Liên hiệp quốc về Chống sa mạc hóa - UNCCD (2015), suy thoái đất tạo ra gánh nặng kinh tế từ 6,3 - 10,6 nghìn tỉ USD mỗi năm, tương đương 10 - 17% GDP toàn cầu. Những tổn thất này phản ánh giá trị các dịch vụ hệ sinh thái bị mất, bao gồm năng suất nông nghiệp, khả năng lọc nước, điều tiết lũ, lưu trữ carbon và duy trì đa dạng sinh học. Ước tính, mỗi cá nhân trên trái đất thiệt hại từ 870 - 1.450 USD mỗi năm do suy giảm dịch vụ hệ sinh thái.
Suy thoái đất làm giảm năng suất cây trồng và vật nuôi, gia tăng rủi ro mất an ninh lương thực. Đất khỏe mạnh có khả năng giữ nước ngầm, lọc tạp chất và điều tiết dòng chảy; khi các chức năng này suy yếu, chi phí xử lý nước và phòng, chống lũ lụt tăng mạnh. Báo cáo của Sáng kiến Kinh tế về Suy thoái đất (2015) nhấn mạnh rằng, chi phí phục hồi đất thấp hơn nhiều so với thiệt hại do suy thoái gây ra. Cứ mỗi 1 USD đầu tư vào phục hồi đất có thể mang lại lợi ích kinh tế từ 7 - 30 USD thông qua gia tăng năng suất, ổn định khí hậu và cải thiện an ninh nước. Việc đạt được trạng thái cân bằng suy thoái đất có khả năng đóng góp thêm hàng nghìn tỉ USD GDP mỗi năm. Theo Global Land Outlook, việc khoảng 40% diện tích đất toàn cầu bị suy thoái đang trực tiếp đe dọa khối lượng GDP trị giá gần 44 nghìn tỉ USD của thế giới vốn phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên. Nếu duy trì kịch bản “không thay đổi” (BAU), suy thoái đất có thể gây tổn thất lũy kế khoảng 23 nghìn tỉ USD vào năm 2050, làm giá thực phẩm tăng 30% và năng suất cây trồng toàn cầu giảm 12%. Trong khi đó, tổng chi phí đầu tư phục hồi đất toàn cầu ước khoảng 4,6 nghìn tỉ USD, thấp hơn đáng kể so với thiệt hại nếu trì hoãn hành động. Phục hồi đất mang lại lợi ích đa chiều, bao gồm tăng năng suất từ 5 - 10% tại nhiều quốc gia đang phát triển, hấp thụ thêm 17 - 83 tỉ tấn carbon và góp phần bảo đảm an ninh lương thực cho khoảng 9 tỉ người (UNCCD, 2022).
Tại Việt Nam, nông nghiệp đang chịu áp lực cấu trúc rõ rệt khi năng suất tại các vùng rủi ro khí hậu giảm từ 10 - 20%. Khan hiếm nước được dự báo có thể đe dọa khoảng 50% GDP toàn cầu trong thập kỷ tới, đặt ra thách thức lớn đối với quản lý tài nguyên. Mức tiêu thụ tài nguyên hiện nay phản ánh mô hình tiêu dùng vượt quá giới hạn sinh thái. Nếu xu hướng gia tăng dân số và tiêu dùng thiếu bền vững tiếp diễn, đến năm 2050, nhân loại có thể cần nguồn lực tương đương ba hành tinh để đáp ứng nhu cầu. Các quốc gia có mức sống cao tạo ra dấu chân sinh thái lớn, với nhu cầu đất đai và nước vượt xa khả năng tự phục hồi của hệ sinh thái. Trong bối cảnh đó, mục tiêu “sống trong giới hạn một hành tinh” trở thành định hướng trung tâm nhằm điều chỉnh mô hình sản xuất và tiêu dùng về ngưỡng chịu tải sinh thái, thông qua cải cách chính sách, đầu tư vào thiên nhiên, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và giảm lãng phí.
2. Vai trò của tài chính xanh đối với phục hồi hệ sinh thái tự nhiên, chống suy thoái đất và nâng cao năng suất nông nghiệp
Hệ thống tài chính toàn cầu đang trải qua quá trình tái cấu trúc sâu rộng nhằm thích ứng với các rủi ro khí hậu và suy thoái tự nhiên. Tính đến cuối năm 2025, khung pháp lý về rủi ro khí hậu đã được thiết lập tại 59 quốc gia, tăng 67% so với năm 2023. Đồng thời, số quốc gia ban hành khung pháp lý liên quan đến vốn tự nhiên tăng từ 8 - 25 chỉ trong vòng hai năm, phản ánh sự chuyển dịch trọng tâm từ quản lý phát thải carbon sang quản trị toàn diện nền tảng sinh thái. Nếu trong hơn một thập kỷ qua, vấn đề phát triển bền vững chủ yếu tập trung vào khử carbon, công nghiệp xanh và phân loại danh mục đầu tư xanh, thì giai đoạn hiện nay đã được mở rộng sang quản trị rủi ro tài nguyên thiên nhiên và tích hợp vốn tự nhiên vào các quyết định tài chính. Xu hướng này tạo áp lực hội nhập mạnh mẽ đối với Việt Nam, đòi hỏi hệ thống ngân hàng, doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhanh chóng thích ứng, đưa các tiêu chí xanh và kinh tế tuần hoàn vào chiến lược phát triển nhằm duy trì năng lực cạnh tranh dài hạn.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã từng bước xây dựng khuôn khổ chính sách tương đối đầy đủ nhằm thúc đẩy phát triển ngân hàng xanh và tín dụng xanh, gắn với mục tiêu tăng trưởng xanh quốc gia. Theo Quyết định số 1552/QĐ-NHNN ngày 06/8/2015 của Thống đốc NHNN ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đến năm 2020, xác định bốn nhóm giải pháp trọng tâm:
(i) Hoàn thiện thể chế về ngân hàng và tín dụng theo hướng phù hợp với mục tiêu tăng trưởng xanh, bảo đảm hoạt động cấp tín dụng tuân thủ yêu cầu bảo vệ môi trường; (ii) Nâng cao năng lực của hệ thống ngân hàng thương mại trong triển khai ngân hàng xanh và tín dụng xanh thông qua cải thiện quản trị rủi ro, quy trình thẩm định và kiểm soát tác động môi trường - xã hội; (iii) Xây dựng các công cụ thúc đẩy phát triển sản phẩm tín dụng xanh, tạo điều kiện hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp thực hiện các mô hình sản xuất, kinh doanh theo định hướng tăng trưởng xanh;
(iv) Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến nhằm nâng cao nhận thức về ngân hàng xanh và tín dụng xanh trong toàn hệ thống ngân hàng và cộng đồng doanh nghiệp.
Trên cơ sở đó, nội dung về ngân hàng xanh và tín dụng xanh tiếp tục được lồng ghép vào Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng đến năm 2025 theo Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 08/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Song song với đó, Quyết định số 1604/QĐ-NHNN ngày 07/8/2018 của Thống đốc NHNN phê duyệt Đề án phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam, tạo khuôn khổ triển khai đồng bộ các hoạt động ngân hàng xanh.
Việc thực thi Đề án này được hỗ trợ bởi các văn bản chỉ đạo cụ thể nhằm thúc đẩy tín dụng xanh và tăng cường quản lý rủi ro môi trường - xã hội trong hoạt động cấp tín dụng, tiêu biểu là Chỉ thị số 03/CT-NHNN ngày 24/3/2015 của Thống đốc NHNN về thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh và quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng và Công văn số 9050/NHNN-TD ngày 03/11/2017 của NHNN về việc báo cáo tình hình cấp tín dụng đối với các lĩnh vực xanh và đánh giá rủi ro môi trường, xã hội trong hoạt động cấp tín dụng.
Theo Quyết định số 1408/QĐ-NHNN ngày 26/7/2023 của Thống đốc NHNN về việc ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030 và Đề án về những nhiệm vụ, giải pháp triển khai kết quả Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP26), bảy nhóm giải pháp toàn diện đã được xác định, tập trung vào hoàn thiện thể chế và chính sách, thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển nguồn nhân lực, tăng cường thông tin - truyền thông, thành lập Diễn đàn Tài chính xanh của ngành Ngân hàng, đẩy mạnh mua sắm xanh và ưu tiên sử dụng sản phẩm, dịch vụ thân thiện với môi trường. Bên cạnh đó, Thông tư số 17/2022/TT-NHNN ngày 23/12/2022 của Thống đốc NHNN hướng dẫn thực hiện quản lý rủi ro về môi trường trong hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, cùng các thông tư hướng dẫn thi hành Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 bổ sung hình thức cấp tín dụng bằng phương tiện điện tử, đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng tín dụng xanh trên nền tảng số. Đề án Phát triển ngân hàng xanh tiếp tục được điều chỉnh, cập nhật theo Quyết định số 1663/QĐ-NHNN ngày 06/8/2024 của Thống đốc NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 1604/QĐ-NHNN ngày 07/8/2018, nhằm bảo đảm Đề án Phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam phù hợp với bối cảnh và yêu cầu mới.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, khuôn khổ chính sách tín dụng tiếp tục được hoàn thiện thông qua việc sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2018/NĐ-CP ngày 16/4/2018 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phân bón theo hướng tăng cường tín dụng ưu đãi, khuyến khích phát triển kinh tế tuần hoàn, nông nghiệp xanh và nông nghiệp hữu cơ. NHNN cũng chỉ đạo triển khai các chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm gắn với mục tiêu phát triển một triệu héc-ta lúa gạo chất lượng cao, phát thải thấp tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Các chương trình này thể hiện rõ vai trò của tín dụng xanh trong hỗ trợ chuyển đổi mô hình tăng trưởng nông nghiệp theo hướng bền vững, nâng cao năng suất và tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
Năm 2025 đánh dấu giai đoạn then chốt trong quá trình phát triển quốc gia, khi định hướng chuyển đổi xanh và kinh tế tuần hoàn được chuyển từ cấp độ hoạch định chính sách sang tổ chức thực thi trên diện rộng. Nghị quyết số 122/NQ-CP ngày 08/5/2025 của Chính phủ ban hành Kế hoạch thực hiện Kết luận số 81-KL/TW ngày 04/6/2024 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường tiếp tục khẳng định biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường giữ vai trò trung tâm trong chiến lược phát triển dài hạn. Quyết định số 222/QĐ-TTg ngày 23/01/2025, Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg tiệm cận các chuẩn mực quốc tế như Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), Hiệp hội Thị trường Vốn Quốc tế (ICMA) và Phân loại của EU (EU Taxonomy), qua đó hình thành nền tảng pháp lý thống nhất cho sự phát triển của thị trường tài chính xanh.
Trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, NHNN tăng cường phối hợp với các tổ chức quốc tế như Tổ chức Hợp tác quốc tế Đức (GIZ) và IFC nhằm nâng cao tính thực tiễn và mức độ phù hợp với chuẩn mực quốc tế của hoạt động tín dụng xanh. Danh mục phân loại xanh quốc gia tạo lập cơ sở pháp lý rõ ràng cho công tác thẩm định tín dụng và phát triển các sản phẩm tài chính xanh, đồng thời nâng cao mức độ tin cậy đối với nhà đầu tư quốc tế theo các tiêu chuẩn môi trường - xã hội - quản trị (ESG). Việc minh bạch hóa khái niệm “xanh” góp phần giảm chi phí thông tin, cải thiện phân bổ nguồn lực và nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ gắn với mục tiêu môi trường. Theo đó, quá trình thẩm định dự án từng bước chuyển từ đánh giá định tính sang đánh giá dựa trên các tiêu chí đo lường cụ thể, qua đó giảm rủi ro pháp lý và nâng cao tính nhất quán trong toàn hệ thống.
Đối với lĩnh vực nông nghiệp, danh mục phân loại xanh giúp nhận diện rõ các dự án canh tác phát thải thấp, nông nghiệp tuần hoàn và nông nghiệp sinh thái, từ đó mở rộng khả năng tiếp cận nguồn vốn trung và dài hạn. Dòng vốn xanh có điều kiện lan tỏa đến khu vực nông thôn, thúc đẩy đổi mới công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng và cải thiện thu nhập cho người sản xuất.
Song song với việc chuẩn hóa tiêu chí, Chính phủ đẩy mạnh triển khai các công cụ hỗ trợ tài chính trực tiếp nhằm giảm gánh nặng chi phí vốn. NHNN đang hoàn thiện trình Chính phủ dự thảo Nghị định hỗ trợ lãi suất 2%/năm từ ngân sách nhà nước cho doanh nghiệp và hộ kinh doanh vay vốn thực hiện các dự án xanh và tuần hoàn. Đối với nông nghiệp, chính sách hỗ trợ lãi suất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh biên lợi nhuận thấp, thời gian hoàn vốn dài và rủi ro thiên tai cao. Việc giảm chi phí tài chính giúp nâng cao tính khả thi của các dự án xanh, khuyến khích hộ sản xuất và hợp tác xã mạnh dạn đầu tư công nghệ mới.
Bên cạnh đó, Nghị định số 156/2025/NĐ-CP ngày 16/6/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 của Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, đã nâng hạn mức cho vay không có tài sản bảo đảm đối với hợp tác xã nông nghiệp lên tối đa 5 tỉ đồng. Quy định này tác động trực tiếp đến khu vực kinh tế tập thể, vốn gặp khó khăn kéo dài trong tiếp cận tín dụng do thiếu tài sản thế chấp.
Năm 2025 đánh dấu bước ngoặt quan trọng đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam, đặc biệt trong mối liên hệ với lĩnh vực nông nghiệp. Tài chính xanh chuyển dịch từ cơ chế khuyến khích sang chuẩn hóa và gắn với nghĩa vụ tuân thủ, được thúc đẩy bởi quá trình hoàn thiện khung pháp lý quốc gia cũng như áp lực từ hội nhập quốc tế.
Theo báo cáo của IFC, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng giá trị phát hành trái phiếu xanh tại Việt Nam đạt hơn 1,5 tỉ USD. Nhờ đó, dòng vốn xanh từng bước được khơi thông vào các lĩnh vực then chốt như hạ tầng nông nghiệp bền vững, năng lượng tái tạo và các chuỗi giá trị nông sản giảm phát thải. Điểm nhấn của giai đoạn này là sự tham gia ngày càng sâu rộng của các định chế tài chính quốc tế, tiêu biểu như Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), thông qua các mô hình tài trợ hỗn hợp được triển khai tại các NHTM lớn như NHTM cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank). Các mô hình này góp phần cải thiện cấu trúc vốn, phân bổ rủi ro hợp lý và giảm áp lực cho NHTM, đặc biệt trong triển khai Đề án Phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Năm 2025 chứng kiến phân hóa chiến lược rõ nét trong hệ thống ngân hàng. Nhóm NHTM Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt và cung cấp hạ tầng tài chính xanh. Agribank tiếp tục khẳng định vai trò trụ đỡ của nông nghiệp xanh với chiến lược phủ rộng, kết hợp cấp vốn và tư vấn kỹ thuật thông qua mạng lưới đến cấp xã, phối hợp với các tổ chức hội đoàn thể nhằm hỗ trợ chuyển đổi canh tác bền vững. BIDV tạo dấu ấn thông qua huy động nguồn vốn quốc tế theo mô hình tài chính hỗn hợp, điển hình là gói hợp vốn 250 triệu USD với sự tham gia của ADB, Quỹ Khí hậu và Thiên nhiên Canada dành cho khu vực tư nhân ở châu Á (CANPA), JICA và các NHTM quốc tế, hướng tới hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) và doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ. Cùng với đó, NHTM cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) tập trung chuẩn mực hóa quản trị thông qua khung trái phiếu bền vững theo Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg và tiêu chuẩn ICMA, tạo nền tảng huy động vốn dài hạn trên thị trường quốc tế.
Nhóm NHTM cổ phần tư nhân nổi bật với chiến lược đổi mới và ứng dụng công nghệ. NHTM cổ phần Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HDBank) lựa chọn tập trung vào chuỗi giá trị nông nghiệp công nghệ cao, tích hợp tiêu chuẩn ESG như điều kiện thẩm định bắt buộc. NHTM cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) đẩy mạnh hội nhập thông qua tham gia Liên minh NHTM Xanh toàn cầu, tận dụng mạng lưới để tiếp cận nguồn vốn xanh chi phí thấp. NHTM cổ phần Tiên Phong (TPBank) đại diện cho xu hướng chuyển đổi kép xanh và số hóa, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data) để tự động hóa thu thập dữ liệu phát thải, giảm gần 30% phát thải nội bộ và nâng cao minh bạch dữ liệu ESG. Toàn bộ bức tranh phản ánh tín dụng xanh đã chuyển từ định hướng chính sách sang động lực tăng trưởng thực chất của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
3. Triển vọng tài chính xanh năm 2026 và hàm ý chính sách cho hệ thống ngân hàng
Bên cạnh những kết quả đạt được, hệ thống ngân hàng vẫn đang đối diện với một số thách thức mang tính cấu trúc. Rủi ro môi trường và khí hậu ngày càng gia tăng, trong khi chi phí vốn chịu áp lực lớn trong bối cảnh kinh tế vĩ mô biến động và điều kiện tài chính toàn cầu thắt chặt. Đồng thời, khung đo lường, báo cáo và thẩm định phát thải độc lập của doanh nghiệp (MRV) còn chưa hoàn thiện, hạn chế khả năng định lượng rủi ro và đánh giá hiệu quả môi trường của các khoản tín dụng xanh.
Hướng tới năm 2026, các phân tích kịch bản kinh tế cho thấy yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục hoàn thiện chính sách tiền tệ và tín dụng theo hướng tích hợp sâu hơn các yếu tố khí hậu và thiên nhiên vào quá trình điều hành. Việc hiện thực hóa cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 đòi hỏi sử dụng hiệu quả các đòn bẩy tài chính để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu, qua đó chuyển nông nghiệp từ lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao thành không gian đầu tư hấp dẫn, minh bạch và bền vững, đóng góp tích cực cho ổn định kinh tế - xã hội trong dài hạn.
Năm 2026, nền kinh tế Việt Nam và hệ thống ngân hàng bước vào một chu kỳ vận hành mang tính chuyển đoạn, trong đó các động lực tăng trưởng truyền thống đan xen với áp lực điều chỉnh cấu trúc ngày càng sâu sắc. Theo dự báo của nhiều nhóm phân tích độc lập cho thấy tăng trưởng tín dụng năm 2026 nhiều khả năng duy trì quanh ngưỡng 20%, gắn với mục tiêu tăng trưởng GDP ở mức cao theo các kịch bản điều hành tích cực. Nhu cầu vốn gia tăng chủ yếu đến từ đầu tư công quy mô lớn, tái thiết hạ tầng sau thiên tai, mở rộng sản xuất công nghiệp, cũng như quá trình chuyển đổi nông nghiệp theo hướng bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu. Trong bối cảnh đó, dòng vốn ngân hàng tiếp tục giữ vai trò trung tâm trong phân bổ nguồn lực xã hội, đồng thời phải đối mặt với yêu cầu nâng cao chất lượng tín dụng trong điều kiện tốc độ tăng trưởng nhanh.
Mặt bằng Interest Rate" data-glossary-def="Mức lãi mà ngân hàng trả cho người gửi tiền, phụ thuộc vào kỳ hạn và số tiền gửi.">lãi suất huy động trong năm 2026 được dự báo chịu áp lực tăng, đặc biệt trong nửa đầu năm. Mức điều chỉnh dự kiến dao động từ 0,25 - 0,5 điểm phần trăm tại khối NHTM cổ phần tư nhân và từ 0,15 - 0,3 điểm phần trăm tại khối NHTM nhà nước. Chi phí vốn gia tăng kéo theo áp lực đáng kể đối với các dự án đầu tư dài hạn, đặc biệt là các dự án xanh có thời gian hoàn vốn kéo dài và yêu cầu dòng tiền ổn định.
Trong điều kiện này, bài toán tài chính cho quá trình chuyển đổi xanh không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào cơ chế tín dụng truyền thống, mà đòi hỏi việc phát triển các cấu trúc tài chính linh hoạt hơn, có khả năng kết hợp đa dạng nguồn lực và áp dụng các công cụ phân tán rủi ro hiệu quả (Hồng Hạnh, 2025).
Rủi ro nợ xấu trong năm 2026 được đánh giá có xu hướng phân hóa rõ nét. Áp lực nợ xấu chung nhiều khả năng giảm nhờ đà phục hồi của tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên bộ đệm dự phòng của một số ngân hàng đang có dấu hiệu thu hẹp, với tỉ lệ bao phủ nợ xấu duy trì quanh mức 80%. Việc mở rộng tín dụng với tốc độ cao vào các lĩnh vực mới như tín dụng xanh, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và năng lượng tái tạo thế hệ mới đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với hệ thống quản trị rủi ro môi trường - xã hội phải được vận hành một cách thực chất, tránh tình trạng triển khai mang tính hình thức. Chất lượng tài sản trong giai đoạn tới vì vậy không chỉ phụ thuộc vào khả năng trả nợ trong ngắn hạn, mà ngày càng gắn chặt với mức độ bền vững sinh thái của dự án, khả năng chống chịu trước rủi ro khí hậu cũng như các cú sốc từ biến động thị trường quốc tế. Điều này đòi hỏi các ngân hàng phải tiếp cận quản trị rủi ro theo hướng dài hạn và tích hợp, trong đó các yếu tố môi trường và khí hậu trở thành một cấu phần không thể tách rời của đánh giá tín dụng.
Hàm ý chính sách đối với tài chính xanh trong lĩnh vực nông nghiệp cần đặt trọng tâm vào việc xây dựng một hệ sinh thái tài chính hoàn chỉnh, thay vì chỉ tập trung vào mở rộng quy mô tín dụng. Đối với cơ quan quản lý nhà nước, yêu cầu cấp thiết là tiếp tục hoàn thiện hạ tầng thể chế nhằm bảo đảm tài chính xanh được triển khai một cách hiệu quả và thực chất. Trong đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cần sớm ban hành các quy định cụ thể về điều kiện, tiêu chuẩn và cơ chế cấp phép đối với các tổ chức cung cấp dịch vụ xác nhận xanh độc lập. Khi hệ thống xác nhận được vận hành minh bạch và thống nhất, các ngân hàng có thể giảm đáng kể gánh nặng thẩm định kỹ thuật chuyên sâu, tập trung vào chức năng tài chính cốt lõi, đồng thời nâng cao mức độ tin cậy và khả năng chuẩn hóa của danh mục tín dụng xanh.
Bên cạnh đó, việc triển khai sàn giao dịch tín chỉ carbon cần được đẩy nhanh theo đúng lộ trình đã được phê duyệt, đi kèm với hướng dẫn rõ ràng về khả năng sử dụng tín chỉ carbon như một loại tài sản bảo đảm trong quan hệ tín dụng. Khi tín chỉ carbon được công nhận đầy đủ về mặt pháp lý và tài chính, các dự án lâm nghiệp và nông nghiệp phát thải thấp sẽ hình thành thêm nguồn thu bổ sung, qua đó cải thiện đáng kể tính khả thi tài chính.
Cuối cùng, việc nghiên cứu thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng xanh chuyên biệt cho lĩnh vực nông nghiệp mang ý nghĩa chiến lược trong trung và dài hạn. Quỹ được hình thành trên cơ sở vốn mồi từ ngân sách nhà nước và sự tham gia của các tổ chức quốc tế có thể đóng vai trò bảo lãnh cho các khoản vay của doanh nghiệp nhỏ và hợp tác xã đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao. Cơ chế này giúp giảm thiểu rủi ro tín dụng cho các NHTM, đồng thời tạo điều kiện mở rộng tín dụng xanh đến khu vực sản xuất quy mô nhỏ - nhóm đối tượng chịu tác động trực tiếp và lớn nhất từ biến đổi khí hậu (Hải Thanh, 2025).
Trong điều hành chính sách tiền tệ, NHNN cần tiếp tục duy trì cách tiếp cận linh hoạt, trong đó xem xét sử dụng công cụ tái cấp vốn với lãi suất ưu đãi đối với các ngân hàng có tỉ trọng dư nợ xanh cao và được xác nhận theo Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg. Việc cân nhắc nới hạn mức tăng trưởng tín dụng riêng cho danh mục tín dụng xanh đạt chuẩn sẽ tạo động lực để các ngân hàng chủ động tái cơ cấu danh mục cho vay theo hướng bền vững, đồng thời vẫn bảo đảm mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô.
Đối với hệ thống NHTM, năm 2026 đặt ra yêu cầu chuyển dịch mô hình hoạt động từ tư duy “cho vay” sang tư duy “kiến tạo hệ sinh thái tài chính”. Trong đó, tài trợ dựa trên chuỗi giá trị cần trở thành định hướng chủ đạo của tín dụng nông nghiệp xanh. Ngân hàng đóng vai trò trung tâm trong việc kết nối nông dân, doanh nghiệp bao tiêu, nhà cung cấp công nghệ và doanh nghiệp bảo hiểm, qua đó hình thành mạng lưới phân bổ rủi ro hiệu quả và gia tăng giá trị trong toàn chuỗi.
Việc khai thác dữ liệu lớn thu thập từ các khâu sản xuất, chế biến và tiêu thụ cho phép các ngân hàng xây dựng mô hình chấm điểm tín dụng dựa trên hành vi và dòng tiền, từng bước giảm sự phụ thuộc vào tài sản thế chấp, đặc biệt là đất đai nông nghiệp. Trong bối cảnh mặt bằng lãi suất trong nước chịu áp lực tăng, chiến lược huy động nguồn vốn xanh quốc tế trở thành một lợi thế cạnh tranh quan trọng. Theo đó, các ngân hàng cần chủ động xây dựng và hoàn thiện khung ESG phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, sẵn sàng tiếp cận các nguồn vốn từ ADB, WB, IFC và các quỹ khí hậu toàn cầu. Mô hình tài chính hỗn hợp, kết hợp vốn vay thương mại, vốn ưu đãi và viện trợ không hoàn lại, cần được xác định là mục tiêu dài hạn nhằm giảm chi phí vốn cho các dự án xanh có tác động lan tỏa lớn.
Cùng với đó, đầu tư vào công nghệ quản trị rủi ro môi trường - xã hội là trụ cột không thể thiếu trong giai đoạn tới. Việc ứng dụng AI, dữ liệu vệ tinh và các hệ thống phân tích không gian cho phép tự động hóa quy trình đo đạc, báo cáo và thẩm định phát thải cũng như rủi ro sinh thái. Công nghệ không chỉ giúp giảm chi phí vận hành, mà còn tạo điều kiện mở rộng tín dụng xanh xuống các phân khúc vi mô, đồng thời nâng cao năng lực giám sát danh mục cho vay theo thời gian thực. Song song với đó, phát triển các sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp dựa trên chỉ số và tích hợp trực tiếp vào khoản vay sẽ góp phần bảo vệ dòng tiền trả nợ trước các cú sốc khí hậu, qua đó giảm thiểu nguy cơ phát sinh nợ xấu.
Năm 2026 đặt tài chính xanh vào bối cảnh rộng hơn của quá trình chuyển dịch tài chính môi trường toàn cầu. Khi hệ sinh thái suy giảm, giá trị tài sản bảo đảm giảm, độ tín nhiệm tín dụng bị ảnh hưởng và phí rủi ro quốc gia tăng. Các phương pháp định giá dựa trên tác động ngoại lai từng áp dụng trong nhiều thập kỷ đang dần mất hiệu lực. Thiên nhiên không còn là yếu tố miễn phí mà trở thành một biến số tài chính quan trọng. Chi phí phục hồi sinh thái hiện vượt xa chi phí bảo tồn ban đầu, buộc các nhà đầu tư và hoạch định chính sách phải điều chỉnh tư duy và chiến lược đầu tư.
Trong giai đoạn 2025 - 2035, kinh tế tuần hoàn trở thành khung phát triển trung tâm. Bốn trụ cột mới gồm: Phục hồi hệ sinh thái, thay thế các chức năng sinh thái bị mất, nâng cao khả năng chống chịu và thúc đẩy tính tuần hoàn, định hình chiến lược phát triển bền vững. Đầu tư vào phục hồi rừng, đất ngập nước và hệ thống canh tác tái sinh không chỉ bảo vệ môi trường mà còn mang lại giá trị kinh tế dài hạn thông qua giảm thiệt hại thiên tai và tăng năng suất. Các giải pháp thuận thiên trong nông nghiệp và hạ tầng góp phần giảm chi phí phòng vệ, nâng cao ổn định tài chính khu vực và thúc đẩy khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Trong bối cảnh đó, tài chính xanh dần hình thành như kiến trúc tương lai của hệ thống tài chính. Các mô hình rủi ro liên quan đến khí hậu, đất đai và nước được tích hợp trực tiếp vào quyết định đầu tư, thay thế định giá truyền thống dựa trên giả định ổn định bằng các giới hạn sinh thái. Đây là không gian mà Việt Nam có thể đi trước, tận dụng lợi thế chính sách và nhu cầu chuyển đổi cấp bách để dẫn dắt quá trình phát triển tài chính bền vững.
Trong bối cảnh ô nhiễm, tài chính bền vững trở thành một vấn đề kinh tế vĩ mô cốt lõi. Đầu tư vào phục hồi môi trường không còn mang tính phúc lợi đơn thuần, mà trực tiếp bảo vệ xếp hạng tín nhiệm quốc gia, năng lực thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và ổn định kinh tế dài hạn. Dòng vốn quốc tế có xu hướng hướng tới những khu vực cần tái cấu trúc sâu sắc, nơi chuyển đổi xanh tạo ra dư địa tăng trưởng mới.
Với hệ thống chính sách đã được ban hành cùng các văn bản liên quan đến phát triển kinh tế tư nhân, an ninh năng lượng và trung tâm tài chính quốc tế, Việt Nam đã mở ra một không gian thể chế thuận lợi để tài chính xanh vận hành ở quy mô lớn. Thách thức trọng tâm trong năm 2026 không nằm ở nhận thức về vai trò của tài chính xanh, mà tập trung vào năng lực triển khai, phối hợp liên ngành và khả năng mở rộng các mô hình thử nghiệm thành chuẩn mực thị trường. Khi dòng vốn được định hướng tới những khu vực tạo ra sinh kế bền vững, phục hồi hệ sinh thái và giảm phát thải, tài chính xanh sẽ trở thành động lực tăng trưởng cốt lõi, góp phần xây dựng một nền kinh tế tự cường, ổn định và thích ứng lâu dài.
Tài liệu tham khảo:
1. Eckstein, D., Künzel, V., & Schäfer, L. (2021), Global Climate Risk Index 2021, Who Suffers Most from Extreme Weather Events? Weather-Related Loss Events in 2019 and 2000 to 2019. Germanwatch.
2. ELD Initiative (2015), The value of land: Prosperous lands and positive rewards through sustainable land management, Economics of Land Degradation Initiative.
3. Hải Thanh (2025), Chính sách tiền tệ, tín dụng thúc đẩy chuyển đổi xanh và bền vững cho khu vực hợp tác xã, Tạp chí Ngân hàng, https://tapchinganhang.gov.vn/chinh-sach-tien-te-tin-dung-thuc-day-chuyen-doi-xanh-va-ben-vung-cho-khu-vuc-hop-tac-xa-16233.html
4. Hồng Hạnh (2025), Tín dụng xanh: Đòn bẩy cho chuyển đổi nông nghiệp, https://thoibaonganhang.vn/tin-dung-xanh-don-bay-cho-chuyen-doi-nong-nghiep-175393.html
5. United Nations Convention to Combat Desertification (2022), Global land outlook: Land restoration for recovery and resilience (2nd ed.), UNCCD Secretariat.
6. UNEP (2023), Adaptation Gap Report 2023, United Nations Environment Programme.
7. UNFCCC (2024), New Collective Quantified Goal on Climate Finance, United Nations Framework Convention on Climate Change.
8. World Bank (2022), Vietnam Country Climate and Development Report, World Bank Group.

