(Banker.vn) Nhìn vào bức tranh tín dụng của hệ thống ngân hàng Khu vực 14 (gồm TP. Cần Thơ và tỉnh Vĩnh Long) cho thấy, dòng vốn tín dụng đang được “chảy” vào sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là các lĩnh vực thế mạnh của kinh tế địa phương.
“Nắn” dòng vốn vào sản xuất
Khi dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng trên địa bàn đang trực tiếp “chảy” không chỉ “đủ” mà còn “đúng” và “trúng” vào các thế mạnh cốt lõi sản xuất kinh doanh đã làm thay đổi diện mạo mới của nền kinh tế tại TP. Cần Thơ và tỉnh Vĩnh Long.
Trong khi Interest Rate" data-glossary-def="Mức lãi mà ngân hàng trả cho người gửi tiền, phụ thuộc vào kỳ hạn và số tiền gửi.">lãi suất huy động duy trì ổn định (kỳ hạn dưới 6 tháng phổ biến ở mức 4,75%/năm), thì lãi suất cho vay lại có sự phân hóa mạnh mẽ để điều hướng dòng tiền.
Các lĩnh vực ưu tiên, khách hàng có tài chính minh bạch đang được hưởng mức lãi suất ưu đãi chỉ 4%/năm. Ngược lại, lãi suất cho vay các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như bất động sản hay tiêu dùng đã được điều chỉnh giảm 1 điểm % xuống còn 7,5%/năm, giúp dư nợ bất động sản duy trì ở mức kiểm soát (15,06% tổng dư nợ). Việc duy trì lãi suất sản xuất kinh doanh ở mức 8,5%/năm cho thấy sự thận trọng nhưng vẫn đảm bảo biên độ lợi nhuận cho hệ thống ngân hàng để tái đầu tư vào nền kinh tế.
Số liệu thống kê từ Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực 14 cho thấy, tính đến cuối tháng 1/2026, tổng nguồn vốn huy động tại ngành Ngân hàng Khu vực 14 đạt 405.240 tỷ đồng. Một con số ấn tượng, nhưng điều đáng quan tâm hơn là cách mà hệ thống ngân hàng đang “điều phối” nguồn lực này. Ước tính đến cuối tháng 2/2026, con số huy động sẽ cán mốc 408.100 tỷ đồng, tăng 0,71% so với cuối năm trước, đảm bảo đáp ứng gần 80% nhu cầu dư nợ toàn vùng.
Đặc biệt cơ cấu dư nợ có sự chuyển dịch rõ nét. Dù tổng dư nợ cho vay toàn khu vực có sự sụt giảm nhẹ trong tháng đầu năm (đạt 509.822 tỷ đồng), nhưng đến cuối tháng 2/2026 bật tăng mạnh trở lại, ước đạt 517.775 tỷ đồng, tăng 1,56% so với thời điểm cuối năm 2025.
Điểm sáng là dòng vốn đang tập trung vào các thế mạnh kinh tế địa phương: Nông, lâm, thủy sản dư nợ đạt 83.649 tỷ đồng (chiếm 16,41%). Đây là “bệ đỡ” cho hơn 247.000 ha lúa Đông Xuân tại Cần Thơ và gần 100.000 ha tại Vĩnh Long đang trong kỳ thu hoạch.
Ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 20,47% dư nợ, tương đương 104.372 tỷ đồng. Đặc biệt, ngành chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực chính với chỉ số sản xuất công nghiệp tại Cần Thơ tăng tới 23,39% so với cùng kỳ.
Lĩnh vực ưu tiên cho vay nông nghiệp, nông thôn chiếm tỷ lệ áp đảo, với 47,47% tổng dư nợ (242.008 tỷ đồng).
Thực tế từng chương trình tín dụng, bức tranh khác hiện ra, vốn đang đi theo chuỗi giá trị nông nghiệp – thủy sản – xuất khẩu, vốn là “xương sống” của vùng. Dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn ước đến cuối tháng 2/2026 tăng lên 243.500 tỷ đồng. Đây không phải là một tỷ lệ nhỏ. Gần một nửa tín dụng toàn địa bàn đang nằm ở khu vực nông nghiệp – nông thôn.
Riêng tín dụng thủy sản đạt 44.950 tỷ đồng (8,82% tổng dư nợ), trong đó cá tra dư nợ 10.600 tỷ đồng, tôm dư nợ là 19.200 tỷ đồng. Tín dụng lúa, gạo đạt dư nợ 40.100 tỷ đồng (7,87%), còn rau quả đạt 14.700 tỷ đồng.
Kết quả cho vay phản ánh rõ định hướng ngân hàng không đứng ngoài đề án phát triển 1 triệu ha lúa chất lượng cao, không đứng ngoài chuỗi cá tra – tôm xuất khẩu, cũng không đứng ngoài chuyển dịch cơ cấu nông sản theo hướng giá trị gia tăng.
Đáng chú ý, chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông sản, lâm sản, thủy sản đã giải ngân lũy kế 68.900 tỷ đồng; dư nợ hiện đạt 23.721 tỷ đồng, với hơn 20.000 lượt khách hàng được tiếp cận vốn.
Dòng tiền không còn “rót đều”, mà đang đi theo chương trình, theo mục tiêu, theo chuỗi.
Về công nghiệp chế biến động cơ tăng trưởng thầm lặng. Dư nợ cho vay ngành công nghiệp và xây dựng ước cuối tháng 2 tăng lên 106.100 tỷ đồng, góp phần tạo sức bật chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 1/2026 của Cần Thơ tăng 23,39% so với cùng kỳ; Vĩnh Long tăng 12,78%.
Đặc biệt, cho vay công nghiệp hỗ trợ tăng 75,77% so với cuối năm 2025, đạt 2.278 tỷ đồng. Con số tuyệt đối còn khiêm tốn, nhưng tốc độ tăng cho thấy một chuyển dịch đáng chú ý: ngân hàng bắt đầu “bắt sóng” yêu cầu nâng cao hàm lượng nội địa và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.
Nếu công nghiệp chế biến – chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng, thì tín dụng phải đi trước một bước. Thực tế cho thấy, các tổ chức tín dụng nhà nước và có vốn chi phối đang giữ vai trò dẫn dắt, với 61,71% tổng dư nợ toàn khu vực.

Bất động sản hạ nhiệt, nợ xấu trong tầm kiểm soát
Một điểm đáng chú ý, tín dụng bất động sản đạt 76.792 tỷ đồng, chiếm 15,06% tổng dư nợ và giảm nhẹ so với cuối năm 2025. Lĩnh vực chứng khoán không phát sinh.
Trong bối cảnh nhiều địa phương lo ngại dòng tiền quay lại các lĩnh vực đầu cơ, cấu trúc tín dụng của ngành Ngân hàng Khu vực 14 cho thấy định hướng rõ ưu tiên sản xuất, kiểm soát rủi ro.
Tỷ lệ nợ xấu toàn khu vực vẫn trong ngưỡng kiểm soát, phản ánh chất lượng tín dụng tương đối ổn định.
Đáng chú ý, 65,05% dư nợ có lãi suất từ 8%/năm trở xuống. Điều này cho thấy mặt bằng lãi suất thực tế đang hỗ trợ khu vực sản xuất, đặc biệt trong bối cảnh doanh nghiệp còn nhiều áp lực chi phí.
Giải pháp không chỉ là “bơm vốn” mà là “kiến tạo hệ sinh thái”
Để nền kinh tế hai địa phương TP. Cần Thơ và tỉnh Vĩnh Long phát triển bền vững dựa trên các thế mạnh sẵn có, ThS. Trần Quốc Hà, Quyền Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực 14 chia sẻ giải pháp điều hành chính sách tín dụng quyết liệt hơn cho giai đoạn tiếp theo của năm 2026, cụ thể:
Thứ nhất, ưu tiên “tín dụng xanh” và công nghệ trong nông nghiệp. Thay vì chỉ cho vay canh tác truyền thống, ngân hàng cần có gói sản phẩm đặc thù cho chuỗi giá trị lúa gạo và thủy sản ứng dụng công nghệ cao. Với sản lượng thủy sản tăng trưởng tốt (Cần Thơ tăng 6,18%), việc tài trợ vốn cho hệ thống kho lạnh và chế biến sâu sẽ giúp gia tăng giá trị thặng dư thay vì xuất khẩu thô.
Thứ hai, khôi phục “sức khỏe” cho tín dụng xuất khẩu. Cần có sự phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước và các bộ, ngành để bảo lãnh tín dụng hoặc hỗ trợ lãi suất chuyên biệt cho các doanh nghiệp có hợp đồng xuất khẩu chính ngạch. Việc dư nợ xuất khẩu ước tăng lại 2,54% trong tháng 2 là tín hiệu tốt cần được tiếp sức kịp thời.
Thứ ba, đẩy mạnh cho vay kinh tế tập thể. Hiện nay, dư nợ cho vay hợp tác xã trên địa bàn mới chỉ tiếp cận được một phần nhỏ trong tổng số hơn 1.500 đơn vị đang hoạt động. Cần đơn giản hóa thủ tục thế chấp bằng tài sản hình thành từ vốn vay hoặc doanh thu tương lai để các HTX nông nghiệp có lực đẩy mở rộng sản xuất.
Thứ tư, chính sách “Tín dụng dựa trên dòng tiền” (Cash-flow based lending), thay thế dần rào cản về tài sản thế chấp bằng việc thẩm định tính khả thi của phương án kinh doanh và hợp đồng đầu ra. Đặc biệt ưu tiên cho các doanh nghiệp tại Khu công nghiệp Trà Nóc (Cần Thơ) và Bình Minh (Vĩnh Long).
Thứ năm, gói hỗ trợ “Logistics và Kho lạnh”, chính quyền địa phương cần phối hợp với Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực để xây dựng gói vay trung và dài hạn với thời gian ân hạn gốc lên đến 2-3 năm cho hệ thống hạ tầng logistics nông sản. Đây chính là “huyết mạch” để “nắn” dòng vốn vào thực chất sản xuất.
Thứ sáu, số hóa tín dụng nông thôn. Triển khai mạnh mẽ các nền tảng cho vay trực tuyến, giảm chi phí giao dịch cho người nông dân tại các xã vùng sâu vùng xa của Vĩnh Long và TP. Cần Thơ, giúp họ tiếp cận vốn nhanh chóng trong các thời điểm vàng của vụ mùa (như vụ lúa Đông Xuân tháng 2 vừa qua).
Dòng vốn ngành Ngân hàng Khu vực 14 đang chuyển mình tích cực, “len lỏi” vào từng xưởng máy, vuông tôm. Tuy nhiên, để tạo ra một “cú hích” đủ mạnh đưa TP. Cần Thơ và tỉnh Vĩnh Long trở thành những cực tăng trưởng thực thụ, ngành Ngân hàng cần đóng vai trò là “người định hướng” hơn là “người đi sau” nhu cầu của thị trường. Đầu tư vào thế mạnh địa phương bằng một chính sách tín dụng linh hoạt, minh bạch chính là “chìa khóa” mở ra sự thịnh vượng cho năm 2026
ThS. Trần Trọng Triết

