Ngành Ngân hàng Khu vực 14: Đồng hành cùng doanh nghiệp “bơm nhựa sống” cho những động lực tăng trưởng mới
(Banker.vn) Trong bối cảnh nền kinh tế bước vào giai đoạn tăng tốc năm 2026, sự gắn kết giữa hệ thống ngân hàng và cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân và doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), không chỉ là mối quan hệ vay - mượn thuần túy, mà còn là sự “cộng sinh” chiến lược để hiện thực hóa những mục tiêu tăng trưởng xanh và bền vững.
Dòng vốn tín dụng tiếp sức cho nền kinh tế
Hệ thống ngân hàng duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng ổn định, phù hợp định hướng điều hành chính sách tiền tệ. Tại Ngân hàng Nhà nước Khu vực 14 gồm TP. Cần Thơ – Vĩnh Long, tổng dư nợ tín dụng đến cuối năm 2025 đạt hơn 513 nghìn tỷ đồng, tăng trên 12% so với năm trước, phản ánh nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng đang gia tăng mạnh mẽ. Đến đầu năm 2026, dư nợ tiếp tục tăng lên gần 525 nghìn tỷ đồng, cho thấy dòng vốn ngân hàng vẫn giữ vai trò chủ lực trong cung ứng nguồn lực tài chính cho nền kinh tế.
Song song đó, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trong khu vực cũng đạt trên 403 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 11% so với cuối năm 2024, giúp bảo đảm cân đối thanh khoản và đáp ứng khoảng 78% nhu cầu tín dụng trên địa bàn. Cơ cấu huy động vốn chủ yếu là tiền gửi bằng đồng Việt Nam, chiếm gần 98%, góp phần ổn định thị trường tiền tệ và hạn chế rủi ro tỷ giá.
Việc mở rộng tín dụng tập trung vào lĩnh vực sản xuất – kinh doanh đã hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế địa phương. Năm 2025, GRDP của TP. Cần Thơ đạt 7,23%, trong khi Vĩnh Long đạt 5,84%. Khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo và thương mại – dịch vụ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định, trong đó tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ của hai địa phương đạt gần 594 nghìn tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu vượt 9,1 tỷ USD, phản ánh hiệu quả lan tỏa của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động sản xuất và thương mại.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa – trọng tâm của chính sách tín dụng
Trong cơ cấu doanh nghiệp hiện nay, DNNVV chiếm tỷ lệ áp đảo nhưng thường gặp khó khăn khi tiếp cận vốn do hạn chế về thế chấp/cầm cố cho ngân hàng để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ.">tài sản đảm bảo, năng lực tài chính và quản trị. Nhằm “tháo gỡ nút thắt” này, ngành Ngân hàng Khu vực 14 đã đẩy mạnh nhiều cơ chế hỗ trợ, trong đó nổi bật là mô hình bảo lãnh tín dụng kết hợp cho vay ưu đãi.
Tại TP. Cần Thơ, dư nợ tín dụng dành cho DNNVV đạt hơn 86 nghìn tỷ đồng vào cuối năm 2025, tăng trên 16% so với năm trước, chiếm gần 17% tổng dư nợ. Đây là tín hiệu tích cực, song vẫn còn khoảng cách so với tỷ lệ đóng góp của khu vực doanh nghiệp này vào nền kinh tế, cho thấy dư địa mở rộng tín dụng còn khá lớn.
Sự phối hợp giữa Quỹ Bảo lãnh tín dụng DNNVV và các ngân hàng thương mại đang trở thành “cầu nối” hiệu quả giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn. Từ khi thành lập, quỹ bảo lãnh tại TP. Cần Thơ đã hỗ trợ ngân hàng giải ngân hơn 600 tỷ đồng cho doanh nghiệp thuộc nhiều lĩnh vực như thương mại – dịch vụ, nông nghiệp và thủy sản. Cơ chế bảo lãnh cho phép doanh nghiệp sử dụng tài sản hình thành từ vốn vay hoặc tài sản bên thứ 3 để đảm bảo khoản vay, đồng thời được hưởng mức lãi suất thấp hơn khoảng 0,5 – 1%/năm so với thông thường.
Bên cạnh việc cung ứng vốn, ngân hàng còn hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị tài chính, kiểm soát rủi ro và xây dựng phương án kinh doanh hiệu quả. Điều này giúp doanh nghiệp không chỉ tiếp cận vốn mà còn sử dụng vốn đúng mục đích, nâng cao hiệu quả đầu tư và khả năng mở rộng thị trường.
Tín dụng định hướng theo động lực tăng trưởng mới
Một điểm đáng chú ý trong điều hành tín dụng thời gian qua là việc tập trung vốn vào các lĩnh vực ưu tiên, phù hợp chiến lược phát triển kinh tế vùng và quốc gia.
Đối với khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, tín dụng dành cho nông nghiệp, nông thôn tiếp tục giữ vai trò chủ đạo với quy mô dư nợ đạt gần 242 nghìn tỷ đồng, chiếm hơn 47% tổng dư nợ. Trong khi đó, tín dụng ngành công nghiệp – xây dựng tăng gần 30%, cho thấy xu hướng chuyển dịch sang các ngành chế biến sâu, nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm.
Các chương trình tín dụng theo chuỗi liên kết sản xuất lúa gạo chất lượng cao, giảm phát thải đang tạo chuyển biến rõ nét trong sản xuất nông nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nâng cao thu nhập cho nông dân mà còn mở ra cơ hội tiếp cận thị trường xuất khẩu chất lượng cao và tham gia thị trường tín chỉ carbon trong tương lai.
Ngoài ra, tín dụng xanh đang từng bước hình thành với dư nợ gần 9 nghìn tỷ đồng, hỗ trợ các dự án thân thiện môi trường và chuyển đổi năng lượng. Dù quy mô còn khiêm tốn, đây được xem là hướng đi tất yếu khi nền kinh tế chuyển sang mô hình tăng trưởng bền vững và thích ứng biến đổi khí hậu.
Giải pháp nâng cao hiệu quả đồng hành ngân hàng – doanh nghiệp
Mặc dù đạt nhiều kết quả tích cực, hoạt động tín dụng vẫn đối mặt với không ít thách thức. Tỷ lệ nợ xấu tại Ngân hàng Nhà nước Khu vực 14 vào cuối năm 2025 ở mức khoảng 2,5% tổng dư nợ, có xu hướng tăng so với năm trước. Điều này phản ánh sức chịu đựng của doanh nghiệp vẫn còn hạn chế, đặc biệt trong bối cảnh chi phí sản xuất và biến động thị trường gia tăng.
Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã còn thiếu minh bạch tài chính, chưa xây dựng được phương án kinh doanh khả thi hoặc chưa đáp ứng yêu cầu về tài sản đảm bảo, khiến khả năng tiếp cận tín dụng bị hạn chế. Trong khi đó, cơ cấu nguồn vốn huy động vẫn thiên về ngắn hạn, gây áp lực cho ngân hàng trong việc mở rộng tín dụng trung và dài hạn cho các dự án đầu tư lớn.
Để phát huy vai trò của tín dụng ngân hàng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026 – 2030, ThS. Trần Quốc Hà, Quyền Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chia sẻ nhiệm vụ triển khai đồng bộ nhiều giải pháp mang tính chiến lược.
Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế bảo lãnh tín dụng và chia sẻ rủi ro. Việc mở rộng quy mô quỹ bảo lãnh tín dụng, nâng cao năng lực tài chính và đa dạng hóa hình thức bảo lãnh sẽ giúp tăng khả năng tiếp cận vốn của DNNVV. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế phối hợp ba bên giữa ngân hàng – quỹ bảo lãnh – doanh nghiệp nhằm rút ngắn thời gian thẩm định và giải ngân.
Thứ hai, thúc đẩy cho vay dựa trên dòng tiền và dữ liệu số. Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ, ngân hàng cần ứng dụng công nghệ phân tích dữ liệu lớn, kết nối hệ sinh thái thanh toán và thương mại điện tử để đánh giá tín nhiệm doanh nghiệp dựa trên dòng tiền thực tế thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào tài sản đảm bảo.
Thứ ba, định hướng tín dụng theo chuỗi giá trị và cụm liên kết ngành. Việc tài trợ đồng bộ cho các khâu sản xuất – chế biến – tiêu thụ sẽ giúp giảm rủi ro tín dụng, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Mô hình liên kết “bốn nhà” giữa ngân hàng, doanh nghiệp, nông dân và nhà khoa học cần tiếp tục được nhân rộng.
Thứ tư, phát triển tín dụng xanh và tài chính bền vững. Các ngân hàng cần xây dựng danh mục sản phẩm tín dụng ưu đãi cho dự án giảm phát thải, tiết kiệm năng lượng và kinh tế tuần hoàn. Đồng thời, cần tăng cường tiếp cận các nguồn vốn quốc tế để bổ sung nguồn lực cho tín dụng xanh.
Thứ năm, cải cách thủ tục hành chính và nâng cao minh bạch thông tin doanh nghiệp. Việc chuẩn hóa hệ thống báo cáo tài chính, áp dụng chuẩn mực kế toán hiện đại và phát triển cơ sở dữ liệu doanh nghiệp quốc gia sẽ giúp giảm chi phí thẩm định, rút ngắn thời gian tiếp cận vốn.
Thứ sáu, kiểm soát rủi ro và nâng cao chất lượng tín dụng. Ngân hàng cần tăng cường giám sát sau cho vay, ứng dụng công nghệ cảnh báo sớm rủi ro và phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương để xử lý nợ xấu, bảo đảm an toàn hệ thống tài chính.
ThS. Trần Trọng Triết

