(Banker.vn) Mặt bằng lãi suất phân hóa mạnh, ít nhất 6 ngân hàng niêm yết trên 8%/năm, trong đó đỉnh cao chạm mốc 9%.
Thị trường lãi suất ngân hàng ngày 21/2 tiếp tục duy trì mặt bằng cao khi nhiều nhà băng áp dụng mức lãi suất trên 8%/năm thông qua các chương trình cộng thêm hoặc gói lãi suất đặc biệt. Bên cạnh đó, nhóm lãi suất phổ thông từ 6,5–7,3%/năm vẫn được duy trì ở nhiều kỳ hạn trung và dài.
margin: 15px auto;" />Trên thị trường, có ít nhất 6 ngân hàng ghi nhận mức lãi suất thực nhận vượt 8%/năm trong một số trường hợp cụ thể.
Tại Cake by VPBank, ngân hàng số này triển khai chính sách cộng thêm lãi suất đối với tiền gửi trực tuyến. Với kỳ hạn 6 tháng, mức cộng thêm dao động từ 0,2–1%/năm tùy theo quy mô tiền gửi, qua đó đưa lãi suất thực nhận lên khoảng 7,3–8,1%/năm.
PVcomBank áp dụng chương trình cộng thêm lãi suất tới 1,5%/năm cho khách hàng gửi tiết kiệm trực tuyến vào ngày thứ Sáu hằng tuần. Điều kiện là số tiền gửi tối thiểu 100 triệu đồng và kỳ hạn từ 12 tháng trở lên. Theo đó, lãi suất thực nhận đạt 7,6%/năm đối với kỳ hạn 12 tháng; 7,8%/năm với 13 tháng và lên tới 8,3%/năm cho các kỳ hạn từ 15–36 tháng.
Ngoài các chương trình ưu đãi, một số ngân hàng còn áp dụng mức lãi suất đặc biệt cao hơn đáng kể so với mặt bằng chung.
PVcomBank đang niêm yết lãi suất đặc biệt 9%/năm cho tiền gửi kỳ hạn 12–13 tháng tại quầy, với điều kiện duy trì số dư tối thiểu 2.000 tỷ đồng. MSB áp dụng mức 8%/năm cho kỳ hạn 12 tháng với khoản tiền gửi từ 500 tỷ đồng trở lên.
HDBank công bố lãi suất 7,7%/năm cho kỳ hạn 12 tháng và 8,1%/năm cho kỳ hạn 13 tháng, yêu cầu số dư tối thiểu 500 tỷ đồng. Vikki Bank áp dụng mức 8,4%/năm đối với tiền gửi từ kỳ hạn 13 tháng trở lên, với điều kiện số tiền gửi tối thiểu 999 tỷ đồng.
Ở phân khúc không kèm điều kiện đặc biệt, nhiều ngân hàng vẫn niêm yết lãi suất trên 6,5%/năm cho các kỳ hạn trung và dài.
OCB áp dụng 6,7%/năm cho kỳ hạn 12–15 tháng; 6,9%/năm cho 18 tháng; 7%/năm cho 21 tháng; 7,1%/năm cho 24 tháng và 7,3%/năm cho 36 tháng đối với khoản tiền gửi từ 500 triệu đồng.
Vikki Bank niêm yết 6,5%/năm cho kỳ hạn 6 tháng; 6,6%/năm cho 12 tháng và 6,7%/năm cho 13 tháng. Bac A Bank áp dụng 6,5%/năm cho kỳ hạn 6–11 tháng; 6,55%/năm cho 12 tháng; 6,6%/năm cho 13–15 tháng và 6,7%/năm cho 18–36 tháng.
VIB duy trì mức 6,5%/năm cho kỳ hạn 12 tháng, trong khi PVcomBank niêm yết 6,8%/năm cho các kỳ hạn từ 15–36 tháng. PGBank áp dụng 7,1%/năm cho kỳ hạn 6–9 tháng; 7,2%/năm cho 12–13 tháng và 6,8%/năm cho 18–36 tháng.
MBV niêm yết 6,5%/năm cho kỳ hạn 6–11 tháng và 7,2%/năm cho 12–36 tháng. BVBank duy trì lãi suất 6,6%/năm cho kỳ hạn 12 tháng; 6,9%/năm cho 15 tháng; 7%/năm cho 18 tháng và 7,1%/năm cho 24 tháng.
Nhìn chung, lãi suất ngân hàng hiện phân hóa rõ rệt giữa các chương trình ưu đãi, lãi suất đặc biệt và mặt bằng niêm yết phổ thông. Mức trên 8%/năm chủ yếu xuất hiện ở các gói có điều kiện về số tiền gửi hoặc thời điểm gửi tiền, trong khi lãi suất phổ biến trên thị trường vẫn dao động quanh 6,5–7,5%/năm tùy ngân hàng và kỳ hạn.

