- Sắp diễn ra Triển lãm Quốc tế ngành Dệt may và Công nghệ Dệt Việt Nam 2026
- Việt Nam - Ấn Độ: Thúc đẩy hợp tác ngành dệt may tại Hội chợ Mùa Xuân 2026
- Xuất khẩu dệt may, da giày: Giữ đơn hàng bằng công nghệ và dữ liệu
Tăng trưởng chiều sâu là “con đường” khả thi
Từ năm 2026, Chính phủ đặt mục tiêu phấn đấu tăng trưởng kinh tế tối thiểu 10%/năm. Đây là mục tiêu đầy tham vọng trong bối cảnh các động lực truyền thống như khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ hay gia tăng đầu tư công đang dần chạm trần.
Với ngành dệt may, lĩnh vực đóng góp khoảng 11% kim ngạch xuất khẩu cả nước, bài toán đặt ra đặc biệt khó. Phát biểu tại Diễn đàn tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2025, ông Lê Tiến Trường, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Dệt may Việt Nam từng nhận định, nếu tiếp tục đi theo quỹ đạo tăng trưởng theo chiều rộng, tức là chỉ dựa vào gia tăng sản lượng và kim ngạch xuất khẩu, thì mục tiêu hai con số gần như bất khả thi.
margin: 15px auto;" />Ngành dệt may Việt Nam đặt mục tiêu giữ vững vị trí top 3 về xuất khẩu trên thị trường dệt may toàn cầu. Ảnh: Nguyễn Nam
Thực tế, tổng cầu dệt may thế giới trong gần một thập kỷ qua chỉ tăng bình quân khoảng 1,8%/năm. Trong nước, tăng trưởng ngành dệt may 6 năm qua xoay quanh mức 6% và lực lượng lao động không còn dư địa để mở rộng. “Nếu đặt mục tiêu tăng 10%/năm liên tục trong 5 năm, quy mô ngành phải đạt khoảng 75 tỷ USD vào năm 2030, con số này không phù hợp với tổng cầu thị trường và khả năng cung ứng lao động hiện nay”, ông Trường nhìn nhận.
Quan trọng hơn, mỗi 1% tăng trưởng của dệt may chỉ đóng góp khoảng 0,03 -0,05% GDP. Nếu ngành chỉ duy trì mức tăng 6%/năm, phần hụt so với mục tiêu tăng trưởng hai con số của nền kinh tế sẽ phải trông chờ vào các khu vực khác bù đắp. Điều này cho thấy áp lực đổi mới mô hình tăng trưởng của ngành là không thể trì hoãn.
Từ thực tiễn đó, lãnh đạo Vinatex chỉ ra hai “đòn bẩy” then chốt để ngành dệt may vẫn có thể đóng góp thực chất vào mục tiêu tăng trưởng hai con số, ngay cả khi kim ngạch xuất khẩu chỉ tăng 4 - 5%/năm. “Thứ nhất là cải thiện mạnh mẽ cán cân thương mại thông qua giảm nhập khẩu nguyên phụ liệu. Thứ hai là nâng năng suất lao động nhờ tự động hóa và đổi mới công nghệ”, ông Lê Tiến Trường nêu.
Để hiện thực hóa con đường này, chính sách đóng vai trò then chốt. Trước hết là khuyến khích đầu tư vào sản xuất nguyên phụ liệu trong nước, đặc biệt là dệt - nhuộm - hoàn tất. Đây không chỉ là đầu tư cho doanh nghiệp, mà cần được nhìn nhận như đầu tư hạ tầng phát triển bền vững của cả ngành. Trong bối cảnh Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do, tỷ lệ nội địa hóa cao sẽ giúp doanh nghiệp tận dụng ưu đãi thuế quan tốt hơn, đồng thời giảm rủi ro trước các xu hướng bảo hộ thương mại.
Bên cạnh đó, cần chính sách mạnh tay hơn trong khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, sử dụng hiệu quả quỹ khoa học công nghệ, giảm thuế cho các dự án đầu tư hiện đại hóa, robot hóa, số hóa sản xuất. Những cơ chế khuyến khích trực tiếp, gắn với kết quả tăng trưởng và tăng thu nhập người lao động, cũng được kỳ vọng tạo động lực thực chất cho doanh nghiệp.
Một vấn đề khác là tăng trưởng xanh. Dệt may Việt Nam đã sản xuất được nhiều sản phẩm thân thiện môi trường, nhưng đầu ra còn hạn chế do giá thành cao. Muốn phát triển kinh tế tuần hoàn, ngành cần chủ động nguồn nguyên liệu tái chế, kể cả phương án nhập khẩu phế liệu đạt chuẩn để tổ chức sản xuất tuần hoàn trong nước. Nếu không giải được bài toán thị trường và chi phí, sản xuất xanh sẽ khó trở thành động lực tăng trưởng thực sự.
Nâng giá trị gia tăng và xây dựng thương hiệu thời trang Việt
Trong bức tranh dài hạn 2026 - 2030, tăng trưởng chiều sâu của dệt may không chỉ nằm ở nhà máy và dây chuyền sản xuất, mà còn ở vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu. Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam, mục tiêu đến năm 2030 là giữ vững top 3 quốc gia xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới, với kim ngạch khoảng 64,5 tỷ USD, đồng thời nâng giá trị gia tăng bình quân sản phẩm xuất khẩu từ 51% lên 65%.
Muốn vậy, ông Vũ Đức Giang - Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam cho rằng, ngành phải dịch chuyển từ gia công (CMT) sang các mô hình có giá trị cao hơn như FOB (chủ động nguyên liệu, hoàn thiện sản phẩm), ODM (sản xuất trọn gói), OBM (nhà sản xuất thương hiệu gốc). Chuyển đổi số đóng vai trò then chốt trong quá trình này, từ thiết kế 3D, dự báo xu hướng bằng AI, quản trị chuỗi cung ứng bằng dữ liệu lớn và blockchain, đến truy xuất nguồn gốc số hóa theo yêu cầu của các thị trường EU, Mỹ, Nhật Bản.

Dệt may Việt Nam đứng trước yêu cầu nâng cao năng suất để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Ảnh: Nguyễn Nam
Song song với xuất khẩu, thị trường nội địa hơn 100 triệu dân cần được coi là trụ cột thứ hai. Dự báo đến năm 2030, quy mô tiêu thụ hàng may mặc trong nước có thể đạt 8 - 9 tỷ USD. Đây là “sân nhà” để các thương hiệu Việt thử nghiệm thiết kế, xây dựng hình ảnh, hoàn thiện chuỗi bán lẻ và thương mại điện tử trước khi vươn ra quốc tế.
Phát triển ngành công nghiệp thời trang Việt Nam vì thế cần được đặt đúng tầm. Không chỉ dừng ở sản xuất, mà phải hình thành hệ sinh thái sáng tạo gồm trung tâm thiết kế, trình diễn, kết nối nhà thiết kế - doanh nghiệp - nền tảng số, từng bước xây dựng thương hiệu quốc gia “Vietnam Fashion”. Khi thương hiệu mạnh lên, giá trị gia tăng sẽ không còn nằm chủ yếu ở khâu cắt may, mà ở ý tưởng, thiết kế và câu chuyện bền vững gắn với sản phẩm.
Nhìn tổng thể, mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số không phải là áp lực riêng của ngành dệt may, nhưng dệt may buộc phải thay đổi nếu không muốn tụt lại. Tăng trưởng theo chiều sâu dựa trên công nghệ, năng suất, nội địa hóa và thương hiệu là con đường khó, đòi hỏi vốn, tri thức và chính sách dài hơi. Tuy nhiên, đây cũng là con đường duy nhất để ngành dệt may Việt Nam vừa đóng góp thực chất cho mục tiêu chung của nền kinh tế, vừa khẳng định vị thế bền vững trong chu kỳ tăng trưởng mới 2026 - 2030.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn 2026-2030, nhất là khi lợi thế về nhân công đã đến hạn buộc ngành dệt may phải phát triển theo chiều sâu thông qua nâng cao năng suất lao động, chủ động nguyên phụ liệu.

