- Người Mông mang hương núi xuống phố, dệt mùa xuân bằng lá trà
- Đưa hương trà Tà Xùa tới Hội chợ Xuân 2026
- Định vị lại thị trường trà
Nhân dịp Tết đến, Xuân về, phóng viên Báo Công Thương đã trao đổi với ông Ma Văn Thống, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Bản Mộc (xã Yên Bình, tỉnh Thái Nguyên) về hành trình gìn giữ tinh hoa đất trời trong từng búp trà Shan Tuyết và cách nâng niu hương vị núi rừng trong những ấm trà ngày xuân.
Từ rừng cao giữ vị trà nguyên bản
- Thưa ông, hợp tác xã hiện đang tập trung phát triển những dòng sản phẩm nào và điều gì tạo nên sự khác biệt của trà Shan Tuyết Bản Mộc so với nhiều sản phẩm trên thị trường?
Ông Ma Văn Thống:Hợp tác xã Nông nghiệp Bản Mộc hiện tập trung vào trồng, chế biến và phát triển các dòng trà Shan Tuyết đặc sản của địa phương. Hai sản phẩm chủ lực là trà xanh Shan Tuyết và hồng trà Shan Tuyết. Chúng tôi xây dựng sản phẩm theo định hướng nâng cao chất lượng, chuẩn hóa quy trình và phát triển thương hiệu gắn với vùng nguyên liệu.
margin: 15px auto;" />Nhân dịp Tết đến, xuân về, phóng viên Báo Công Thương đã trao đổi với ông Ma Văn Thống, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Bản Mộc về hành trình gìn giữ tinh hoa đất trời trong từng búp trà Shan Tuyết. Ảnh: Kiều Tâm
Mục tiêu không chỉ là bán được sản phẩm, mà là tạo ra những dòng trà có bản sắc riêng, phản ánh đúng điều kiện tự nhiên và công sức của người làm trà.
Điểm khác biệt lớn nhất nằm ở nguồn gốc và điều kiện sinh trưởng. Nguyên liệu được thu hái từ những cây trà cổ thụ mọc tự nhiên trong rừng. Từ những cây đầu dòng khỏe mạnh, bà con nhân giống bằng hạt và giâm cành để mở rộng diện tích.
Vùng trà sinh trưởng ở độ cao trên 800m so với mực nước biển. Ở đó, khí hậu mát mẻ quanh năm, biên độ nhiệt ngày và đêm lớn, sương mù dày và đất đai giàu dinh dưỡng. Những yếu tố này giúp búp trà phát triển chậm nhưng tích tụ hương vị rõ ràng, tạo nên lớp “tuyết” trắng tự nhiên trên búp và vị thanh, hậu ngọt sâu.
Có thể nói, mỗi búp trà là kết tinh của đất, của sương và của thời gian. Nếu nóng vội, chúng ta sẽ khó giữ được hương vị ấy.
- Trong bối cảnh nhiều nơi chạy theo năng suất, hợp tác xã lựa chọn hướng sản xuất như thế nào?
Ông Ma Văn Thống: Chúng tôi xác định đi theo hướng hữu cơ, bền vững. Sản xuất hữu cơ không phải là điều quá phức tạp nếu người làm kiên định với cách làm tự nhiên ngay từ đầu.
Vùng trà Shan Tuyết vốn sinh trưởng trong điều kiện ít chịu tác động hóa học. Người dân chủ yếu làm cỏ, chăm sóc thủ công, để cây phát triển theo chu kỳ tự nhiên. Chúng tôi hạn chế tối đa việc sử dụng hóa chất, không dùng chất kích thích tăng trưởng.
Hiện hợp tác xã đã được cấp chứng nhận hữu cơ PGS. Chứng nhận này giúp sản phẩm có cơ sở pháp lý rõ ràng, đồng thời tạo niềm tin với người tiêu dùng.
Trong khi nhiều nơi theo đuổi “xanh nhanh”, nghĩa là tăng sản lượng bằng các biện pháp can thiệp, chúng tôi chấp nhận làm chậm. Sản lượng có thể không cao bằng mô hình thâm canh hóa học, nhưng đổi lại là chất lượng ổn định và uy tín lâu dài.
Chén trà xuân và câu chuyện thị trường
- Dịp Tết có phải là thời điểm quan trọng với thị trường trà của hợp tác xã?
Ông Ma Văn Thống:Thị trường Tết luôn là mùa cao điểm. Nhu cầu tiêu dùng tăng mạnh, đặc biệt là phân khúc quà biếu, quà tặng. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là xu hướng tiêu dùng đã thay đổi.

Thứ chè từng chỉ là thức uống bên bếp lửa của người Tày, nay đang dần trở thành sản phẩm hàng hóa có thương hiệu, mang theo câu chuyện gìn giữ hương vị núi rừng và khát vọng vươn ra thị trường. Ảnh: Kiều Tâm
Người mua hiện nay quan tâm nhiều đến nguồn gốc, câu chuyện sản phẩm và giá trị sức khỏe. Họ muốn biết trà được trồng ở đâu, canh tác ra sao, có an toàn hay không. Hình thức bao bì vẫn quan trọng, nhưng không còn là yếu tố quyết định.
Điều này mở ra cơ hội cho các sản phẩm trà đặc sản vùng cao như Shan Tuyết, nếu chúng tôi làm tốt việc chuẩn hóa quy trình và kể được câu chuyện sản phẩm một cách rõ ràng, thuyết phục.
Trong không khí xuân, một ấm trà không chỉ để thưởng thức, mà còn thể hiện sự trân trọng khi biếu tặng. Vì vậy, chất lượng và sự chân thành trong sản phẩm càng phải đặt lên hàng đầu.
- Về định vị thị trường và giá bán, hợp tác xã đang triển khai ra sao, thưa ông?
Ông Ma Văn Thống: Khách hàng của chúng tôi chủ yếu là những người quan tâm đến sức khỏe, ưu tiên sản phẩm sạch, hữu cơ và có nguồn gốc rõ ràng. Đây là nhóm khách hàng ngày càng gia tăng.
Giá bán được phân loại theo từng dòng và mức độ công phu trong chế biến. Ví dụ, hồng trà Shan Tuyết có quy trình sản xuất cầu kỳ hơn, thời gian xử lý dài hơn nên giá cao hơn trà xanh truyền thống. Việc phân hạng này nhằm phản ánh đúng giá trị lao động và chất lượng thành phẩm, đồng thời tạo sự minh bạch cho người mua. Chúng tôi không cạnh tranh bằng giá rẻ, mà cạnh tranh bằng chất lượng và câu chuyện sản phẩm.
- So với trước đây, khi chưa có hợp tác xã, giá trị sản phẩm trà địa phương đã thay đổi như thế nào?
Ông Ma Văn Thống:Trước khi thành lập hợp tác xã, bà con chủ yếu tự sản xuất rồi mang bán tại các phiên chợ quê. Đầu ra hạn chế, giá trị gia tăng thấp và khó tiếp cận thị trường rộng hơn.
Khi hợp tác xã đi vào hoạt động, chúng tôi đầu tư bao bì, nhãn mác, xây dựng thương hiệu và ứng dụng chuyển đổi số trong quảng bá. Các kênh mạng xã hội, sàn thương mại điện tử giúp sản phẩm tiếp cận khách hàng trên phạm vi toàn quốc.
Việc tổ chức đầu ra tập trung cũng giúp bà con giảm bớt áp lực tiêu thụ, có thêm thời gian dành cho sản xuất. Hiện hợp tác xã có hơn 30 thành viên liên kết. Ngoài trà, nhiều hộ còn phát triển thêm quế, hồi và một số cây dược liệu, góp phần đa dạng hóa nguồn thu.
- Thưa ông, hợp tác xã có định hướng mở rộng thị trường quốc tế trong thời gian tới không?
Ông Ma Văn Thống:Hiện quy mô của chúng tôi vẫn còn nhỏ, nguồn lực xúc tiến thương mại còn hạn chế nên thị trường chủ yếu là trong nước. Tuy nhiên, khi điều kiện về sản lượng và tiêu chuẩn cho phép, chúng tôi có thể nghiên cứu hướng xuất khẩu.

Ông Ma Văn Thống, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Bản Mộc. Ảnh: Kiều Tâm
Muốn ra thị trường quốc tế, sản phẩm phải đáp ứng yêu cầu khắt khe về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn kỹ thuật. Vì vậy, trước mắt chúng tôi tập trung củng cố nền tảng trong nước, xây dựng thương hiệu vững chắc.
- Ngoài sản xuất, hợp tác xã còn hướng tới những giá trị nào khác, thưa ông?
Ông Ma Văn Thống: Chúng tôi mong muốn giữ gìn và lan tỏa những giá trị văn hóa gắn với cây trà Shan Tuyết. Vùng trà gắn với bản sắc của đồng bào Tày, với làn điệu hát then, tiếng đàn tính, hình ảnh nhà sàn.
Cây trà không chỉ là nông sản, mà còn là câu chuyện văn hóa. Trong thời gian tới, chúng tôi nghiên cứu phát triển mô hình du lịch trải nghiệm, để du khách có thể tham quan vùng trà, tìm hiểu quy trình sản xuất và khám phá đời sống bản địa. Đó là hướng đi lâu dài, nhằm gia tăng giá trị sản phẩm và tạo thêm sinh kế cho người dân.
- Ông kỳ vọng điều gì cho chặng đường sắp tới?
Ông Ma Văn Thống:Chúng tôi không đặt mục tiêu tăng trưởng bằng mọi giá. Điều quan trọng nhất là giữ được chất lượng và niềm tin của khách hàng.
Nếu người tiêu dùng hiểu rõ giá trị tự nhiên của trà Shan Tuyết, cảm nhận được hương vị đặc trưng và sự minh bạch trong sản xuất, họ sẽ gắn bó lâu dài. Khi đó, sản phẩm không chỉ có chỗ đứng trong dịp Tết, mà còn phát triển bền vững quanh năm.
Mùa xuân, khi ấm trà được rót ra trong không gian sum họp, chúng tôi mong rằng trong mỗi chén trà ấy có cả hương rừng, sương núi và sự chân thành của người làm nghề. Giữ được tinh hoa đất trời trong dòng chảy thị trường hôm nay, với chúng tôi đó là điều đáng quý nhất.
Xin cảm ơn ông!
Với những búp trà Shan Tuyết phủ “tuyết” trắng ở độ cao hơn 800m, câu chuyện không chỉ là sản xuất, kinh doanh, mà là hành trình gìn giữ tinh hoa đất trời trong mỗi chén trà xuân.

