Lịch âmCông cụ tínhDashboardSPECIAL
Tin mớiNgân hàngVN30
Banker.vn - Tin tức Tài chính Ngân hàng
banner
  • Trang chủ
  • Ngân hàng
  • Thị trường
  • Tài chính
  • Quốc tế
  • Công nghệ
  • Xã hội
  • Đầu tư
  • Năng lượng
  • FTA
  • Giá xe
HOT
Banker Logo
Tin mới
Banker Logo
Trang chủ

Tài chính - Ngân hàng

Ngân hàng
Thị trường
Tài chính
Đầu tư

Tin tức

Quốc tế
Công nghệ
Xã hội
Năng lượng
FTA

Tiện ích

Giá xe
Tin mới nhất
Trang chủGiá cả

Giá tiêu hôm nay 23/1/2026: Sản lượng liên tục giảm, giá tiêu thế giới sẽ duy trì ở mức cao?

23/01/2026 - 05:145 phút đọcGoogle News

(Banker.vn) Giá tiêu hôm nay đi ngang ở mức 147.500–148.500 đồng/kg. Nguồn cung toàn cầu suy giảm đang giữ mặt bằng giá tiêu ở mức cao.

Giá tiêu hôm nay (23/1) tiếp tục giữ nhịp ổn định tại thị trường trong nước, đánh dấu phiên đi ngang thứ 5 liên tiếp. Trong bối cảnh mặt bằng giá nội địa không còn biến động mạnh như giai đoạn trước, câu chuyện được giới kinh doanh chú ý hơn lại nằm ở phía sau: sản lượng hồ tiêu thế giới đang giảm liên tục, trong khi nhu cầu tiêu thụ không “hạ nhiệt” tương ứng.

margin: 15px auto;" />
Giá tiêu hôm nay tiếp tục đi ngang

Giá tiêu trong nước đi ngang ngày thứ 5, giữ mốc 147.500 – 148.500 đồng/kg

Theo khảo sát sáng nay, giá tiêu trong nước tiếp tục đi ngang, duy trì trong khoảng 147.500 – 148.500 đồng/kg. Đây là phiên thứ 5 liên tiếp thị trường không ghi nhận thay đổi đáng kể, phản ánh trạng thái cân bằng tạm thời giữa nguồn cung và nhu cầu.

Tại Tây Nguyên và vùng trồng trọng điểm, Đắk Lắk và Đắk Nông (Lâm Đồng) vẫn neo ở mức cao nhất 148.500 đồng/kg. Bà Rịa – Vũng Tàu (TP.HCM) và Gia Lai giao dịch quanh 148.000 đồng/kg, trong khi Đồng Nai là địa phương có giá thấp nhất 147.500 đồng/kg.

Diễn biến đi ngang cho thấy thị trường nội địa đang chuyển sang giai đoạn “nghe ngóng”, đặc biệt khi mùa vụ mới tại nhiều quốc gia vẫn chưa cho tín hiệu rõ ràng về sản lượng thực tế. Với nông dân, mức giá hiện tại vẫn đủ hấp dẫn để hạn chế bán ra ồ ạt. Còn với doanh nghiệp xuất khẩu, đây là vùng giá nhạy cảm vì chỉ cần chi phí logistics, tài chính tăng lên, biên lợi nhuận có thể bị thu hẹp.

Thị trường thế giới đứng giá, xuất khẩu Việt Nam duy trì vùng cao

Trên thị trường thế giới, giá tiêu nhìn chung không có biến động mới trong phiên gần nhất. Dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) cho thấy, các thị trường lớn vẫn đang duy trì mức giá cao, phản ánh cung giảm và tồn kho không còn dồi dào.

Cụ thể, tiêu đen Indonesia đang được niêm yết ở mức 6.591 USD/tấn, tiêu đen Brazil ASTA 570 ở mức 6.000 USD/tấn, trong khi Malaysia tiếp tục giữ vị thế phân khúc cao với 9.000 USD/tấn.

Đối với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu vẫn duy trì trong khoảng 6.400 – 6.600 USD/tấn (loại 500 g/l và 550 g/l). Ở phân khúc tiêu trắng, Muntok Indonesia hiện ở mức 9.064 USD/tấn, còn Việt Nam giữ giá chào 9.150 USD/tấn; Malaysia vẫn cao nhất ở mức 12.000 USD/tấn.

Đáng chú ý, việc giá xuất khẩu Việt Nam duy trì vùng cao, nhưng vẫn cạnh tranh so với nhiều nguồn cung khác, cho thấy vai trò “trụ cột” của Việt Nam trên thị trường thế giới vẫn rất rõ rệt. Tuy nhiên, vùng giá cao kéo dài cũng khiến một số nhà mua có xu hướng thận trọng hơn, giãn tiến độ nhập hàng để tránh rủi ro “đu đỉnh” trong ngắn hạn.

Sản lượng hồ tiêu toàn cầu giảm liên tục: Nền giá cao có thể kéo dài sang 2026

Theo IPC, năm 2025, sản xuất hồ tiêu toàn cầu đạt khoảng 537.000 tấn, giảm 2,9% so với năm 2024 và giảm 6,9% so với năm 2023. Điều đáng nói là mức giảm này diễn ra trong bối cảnh giá đã tốt hơn so với giai đoạn ảm đạm trước đó, cho thấy nhiều quốc gia sản xuất vẫn gặp rào cản lớn: chi phí đầu vào cao, thời tiết cực đoan, bệnh hại phức tạp và sự thu hẹp diện tích.

Nguồn cung suy giảm chủ yếu đến từ Ấn Độ, Indonesia và Sri Lanka, trong khi sản xuất phục hồi ở Brazil, Việt Nam và Malaysia. Việt Nam tiếp tục là điểm tựa lớn nhất của thị trường, chiếm 36,3% tổng cung toàn cầu, tiếp theo là Ấn Độ (15,8%) và Brazil (15,1%). Đây là cấu trúc mang tính “lệch cung” rõ rệt: chỉ cần một trong ba quốc gia lớn gặp bất lợi mùa vụ, thị trường rất dễ rơi vào trạng thái căng cung.

Ở từng quốc gia, bức tranh càng làm rõ xu hướng nền giá cao kéo dài. Tại Brazil, sản lượng 2025 ước đạt 81.000 tấn, thấp hơn dự báo đầu năm nhưng vẫn tăng mạnh so với năm trước nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi sau đợt mất mùa nghiêm trọng 2023. Dự báo 2026, sản lượng có thể duy trì ổn định nhờ diện tích mới đưa vào khai thác bù cho phần sụt giảm do biến đổi khí hậu. Một số vùng phía Nam Brazil đã bước vào mùa thu hoạch 2026, đây sẽ là dữ liệu quan trọng để thị trường định hình xu hướng giá quý I/2026.

Ở Indonesia, sản lượng 2025 chỉ còn khoảng 53.000 tấn, giảm 10,1% so với năm trước do mưa kéo dài và xu hướng suy giảm bền vững về diện tích – năng suất. Mùa vụ 2026 cũng có nguy cơ đến muộn, đồng nghĩa nguồn hàng có thể không vào thị trường đúng “nhịp” như kỳ vọng.

Đáng chú ý nhất là Ấn Độ – nơi ghi nhận mức sụt giảm mạnh trong nhóm sản xuất chủ chốt. Sản lượng năm 2025 chỉ khoảng 85.000 tấn, giảm sâu so với 126.038 tấn năm 2024 và 117.000 tấn năm 2023. Thời tiết bất lợi, mưa dài ngày, thiếu nắng, nhiệt độ thấp khiến dây tiêu dễ tổn thương, gia tăng bệnh thối rễ, héo nhanh, thán thư… cùng với chi phí sản xuất cao đã làm suy yếu vai trò truyền thống của Ấn Độ. Mùa thu hoạch của nước này dự kiến kéo dài từ tháng 12/2025 đến tháng 3/2026, đồng nghĩa giai đoạn đầu năm 2026 vẫn còn nhiều biến số.

Tại bang Karnataka là vùng trồng tiêu lớn nhất Ấn Độ, sản lượng giảm mạnh 44,3%, chỉ còn 47.891 tấn, so với mức 86.000 tấn năm trước. Kerala (vùng trồng lớn thứ hai) cũng được dự báo giảm khoảng 28,7%. Sản lượng giảm khiến giá tiêu nội địa Ấn Độ tăng 8–10% so với năm trước, từ đó tác động lan tỏa tới giá khu vực.

Trong khi đó, Malaysia ghi nhận sản lượng 2025 đạt 32.000 tấn, tăng mạnh 28%, với diện tích 8.289 ha (trong đó Sarawak chiếm tới 98%). Đây là điểm sáng hiếm hoi, nhưng quy mô Malaysia vẫn chưa đủ lớn để “cân” lại sự suy giảm của các thị trường lớn hơn.

Với Sri Lanka, sau năm 2024 tăng đột biến lên 39.617 tấn, sản lượng 2025 giảm mạnh về khoảng 30.718 tấn. Campuchia giữ ổn định ở mức 21.456 tấn, đóng vai trò nguồn cung bổ trợ của Đông Nam Á. Trung Quốc cũng duy trì mức sản lượng tương đối ổn định khoảng 25.000 tấn/năm.

Từ bức tranh trên có thể thấy, xu hướng “giảm cung dài hạn” không còn là dự báo mà đã trở thành thực tế của thị trường hồ tiêu toàn cầu. Nếu nhu cầu tiêu thụ không suy giảm mạnh, giá tiêu thế giới nhiều khả năng vẫn duy trì mặt bằng cao trong năm 2026, ít nhất cho đến khi có bằng chứng rõ ràng về việc các nước sản xuất lớn phục hồi sản lượng bền vững.

Uyên Chi

Theo: Kinh Tế Chứng Khoán
    Bài cùng chuyên mục

      Tiêu điểm tuần

      • Ảnh bài viết

        SeABank trước thềm giao dịch cổ phiếu của nhóm cổ đông liên quan Madame Nga

      • Quản lý cán bộ, công chức, viên chức trên nền tảng số

      • Hải quan liên tiếp xử lý các vụ vận chuyển thực phẩm bẩn, thuốc lá lậu

      • Lực lượng Công an nhân dân gương mẫu, đi đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng

      • ‏Nghị quyết 79-NQ/TW: “Đường băng” chiến lược để ngân hàng quốc doanh Việt Nam bứt phá vào Top 100 châu Á‏

      • XSQNG 17/1 trực tiếp kết quả xổ số Quảng Ngãi hôm nay 17/1/2026

      • Bộ trưởng Đào Hồng Lan được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI

      Lãi suất ngân hàng

      Lãi suất 6 tháng cao nhất: PGBank 7.1%
      Lãi suất 12 tháng cao nhất: PGBank 7.2%
      Ngân hàng1T6T12T
      Ngân hàng An Bình3.86.36.3
      Ngân hàng Á Châu3.54.55.3
      Agribank2.645.2
      Ngân hàng Bắc Á4.556.86.85
      Ngân hàng Bảo Việt3.75.55.8

      Tỷ giá ngoại tệ

      Ngoại tệMuaBán
      USD26.05126.381
      EUR29.913,4631.490,56
      GBP34.364,935.823,74
      JPY160,23170,41
      CNY3.676,73.832,78
      AUD17.375,7118.113,34
      SGD19.922,3120.809,63
      KRW15,518,68
      CAD18.518,3319.304,47
      CHF32.201,5433.568,55

      Giao dịch hàng hoá

      Hàng hoáGiá%
      Vàng4,813.04+0.99%
      Bạc92.14-2.64%
      Dầu WTI60.57+0.38%
      Dầu Brent65.32+0.62%
      Khí thiên nhiên4.99+27.80%
      Đồng5.79-0.42%
      Cà phê Hoa Kỳ loại C347.00+0.14%
      Cà phê London4,077.00+5.51%
      Than cốc luyện kim Trung Quốc1,633.000.00%
      Xăng RBOB1.85+1.69%
      Banker.vn Logo

      Trang tin tức tài chính - ngân hàng hàng đầu Việt Nam. Cập nhật nhanh chóng, chính xác các thông tin về lãi suất, tỷ giá, chứng khoán và thị trường tài chính.

      Chuyên mục

      • Ngân hàng
      • Thị trường
      • Tài chính
      • Quốc tế
      • Công nghệ
      • Xã hội

      Tin tức

      • Đầu tư
      • Năng lượng
      • FTA
      • Tin ngân hàng
      • Tin chứng khoán

      Công cụ

      • Công cụ tài chính
      • Từ điển thuật ngữ
      • Bảng giá VN30
      • Về chúng tôi
      • Liên hệ quảng cáo
      • Điều khoản sử dụng
      • Chính sách bảo mật

      Liên hệ

      • 16 Văn Cao, P. Liễu Giai,
        Q. Ba Đình, Hà Nội
      • 024.3999.2518
      • info@ubgroup.vn

      Dashboard Ngân hàng

      BIDVBIDVAgribankAgribankVietcombankVietcombankLPBankLPBankXem tất cả

      Đọc tin theo Ngân hàng

      ACBABBankBAC A BANKCBBankCo-opBankDongA BankTPBankTechcombankVietcombankVietinBankBIDVAgribankNAM A BANKSeABankSacombankLienVietPostBankHDBankVPBankNCBVietA BankKienlongbankSCBSHBSaigonbankSBVBAOVIET BankMBMBBankOceanbankGPBankPG BankVIBMSBEximbankPVcomBankVietbankNgân hàng Bản ViệtHSBCShinhan BankStandard CharteredWoori BankCIMB BankPublic BankHong Leong BankUOBANZIVBVRBVDBNgân hàng Chính sách xã hộiNgân hàng Nhà nước

      Đơn vị chủ quản: Công ty Cổ phần Tập đoàn UB

      Giấy phép số 2489/GP-TTĐT do Sở TT&TT TP. Hà Nội cấp ngày 27/08/2020

      ĐKKD số 0106080414 do Sở KH&ĐT TP. Hà Nội cấp ngày 09/01/2013

      Chịu trách nhiệm nội dung: Vũ Việt Hưng

      Mọi hành vi sao chép nội dung cần ghi rõ nguồn Banker.vn

      © 2026 Banker.vn - Bản quyền thuộc về Công ty Cổ phần Tập đoàn UB

      RSS Feed|Thiết kế bởi UB Group