- Doanh nghiệp tham gia trực tiếp đào tạo: giải 'bài toán' nhân lực chất lượng cao
- Nhân lực ngành ô tô: Yêu cầu chất lượng ngày càng tăng cao
- Việt Nam - Nhật Bản tăng cường hợp tác công nghệ, đào tạo nhân lực
Nhu cầu nhân lực lớn, nhưng cung chưa gặp cầu
Theo TS. Nguyễn Duy Linh (Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải), trong chuỗi giá trị toàn cầu, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ thường đảm nhiệm khâu cung ứng linh kiện, bán thành phẩm là những khâu đòi hỏi tiêu chuẩn rất cao về độ chính xác, tính ổn định và khả năng giao hàng đúng hạn. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ dừng ở mức gia công đơn giản, năng suất thấp, khó đáp ứng yêu cầu khắt khe của các tập đoàn doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Để bứt phá, nhiều doanh nghiệp đã và đang đầu tư vào dây chuyền tự động hóa, robot hóa, in 3D, hệ thống quản trị sản xuất số hóa. Công nghệ giúp rút ngắn thời gian giao hàng, nâng cao chất lượng, tạo cơ hội tham gia chuỗi cung ứng của Samsung, Toyota, Foxconn hay các nhà sản xuất pin, xe điện, năng lượng tái tạo. Nhưng công nghệ chỉ thực sự phát huy khi có đội ngũ nhân lực đủ trình độ.
margin: 15px auto;" />Ngành công nghiệp hỗ trợ đang thiếu nhân lực tay nghề cao. Ảnh minh họa
Thực tế cho thấy, đây lại là điểm yếu lớn của công nghiệp hỗ trợ Việt Nam. Theo Bộ Công Thương, cả nước hiện có khoảng 2.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này, song chỉ chưa tới 300 doanh nghiệp tham gia được chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia. Một trong những nguyên nhân cốt lõi là thiếu lao động kỹ thuật cao.
Trong các lĩnh vực như cơ khí chính xác, linh kiện ô tô, điện tử, nhu cầu kỹ sư, kỹ thuật viên có tay nghề tăng đều 8 - 10% mỗi năm, nhưng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu thực tế chỉ đạt khoảng 40 - 50%. Khoảng trống này buộc nhiều doanh nghiệp phải tự đào tạo lại hoặc thuê chuyên gia nước ngoài với chi phí không nhỏ.
Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp cũng phản ánh, sinh viên tốt nghiệp ngành cơ khí khi vào làm thường chưa quen với máy móc, công nghệ cao. Doanh nghiệp phải mất ít nhất 6 tháng đào tạo lại, vừa tốn chi phí, vừa làm chậm tiến độ sản xuất. Câu chuyện này không hiếm, mà khá phổ biến trong cộng đồng doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ.
PGS.TS. Nguyễn Minh Đức - Chuyên gia đào tạo nhân lực công nghiệp thẳng thắn nhận xét, nhiều nhà trường vẫn “đi chậm một nhịp” so với doanh nghiệp. Chương trình đào tạo còn nặng lý thuyết, thiếu thực hành; trang thiết bị lạc hậu so với công nghệ đang được sử dụng trong nhà máy. Hệ quả là cung - cầu nhân lực khó gặp nhau, dù cả hai phía đều có nhu cầu thực sự.
Khuyến nghị từ chuyên gia
Theo TS. Nguyễn Duy Linh, nếu công nghệ là nền móng thì nhân lực chính là người điều khiển “cỗ máy” đó. Trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh, đào tạo ban đầu thôi là chưa đủ; đào tạo lại và nâng cao kỹ năng phải trở thành nhiệm vụ thường xuyên. Người lao động cần được trang bị khả năng sử dụng phần mềm mô phỏng, lập trình robot, quản trị hệ thống sản xuất số, hiểu biết về chuỗi cung ứng và tiêu chuẩn quốc tế.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Đỗ Đức Tiến - Giám đốc Kinh doanh Công ty NAYAN Sustainability, cho rằng, công nghệ và nhân lực không thể tách rời. Công nghệ hiện đại mà thiếu con người giỏi thì trở nên lãng phí; nhân lực chất lượng cao nhưng thiếu công nghệ thì khó phát huy. Khi hai yếu tố này song hành, chúng tạo thành “động cơ kép” giúp doanh nghiệp bứt phá và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Gắn đào tạo nhân lực ngành công nghiệp hỗ trợ với thực tiễn sản xuất của doanh nghiệp là yêu cầu cấp thiết. Ảnh minh họa
Bài học từ Nhật Bản, Hàn Quốc cho thấy, song song với nhập khẩu công nghệ, họ đặc biệt chú trọng đào tạo đội ngũ kỹ sư, kỹ thuật viên lành nghề. Chính lực lượng này đã giúp công nghiệp hỗ trợ của họ trở thành nhà cung cấp then chốt cho Toyota, Samsung, LG… Với Việt Nam, làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu cùng các chính sách mới, như Nghị định 205/2025/NĐ-CP sửa đổi chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ, đang mở ra cơ hội hiếm có.
Việt Nam đang trong giai đoạn dân số vàng, với khoảng 54% dân số ở độ tuổi lao động. Lực lượng lao động trẻ, dồi dào là lợi thế lớn, song chất lượng nhân lực vẫn là bài toán cần lời giải căn cơ, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập sâu và cạnh tranh ngày càng khốc liệt.
Các chuyên gia đều thống nhất rằng, lời giải cho bài toán nhân lực công nghiệp hỗ trợ nằm ở cơ chế liên kết chặt chẽ giữa nhà trường - doanh nghiệp - nhà nước. Trong đó, doanh nghiệp cần tham gia từ khâu xây dựng chương trình đào tạo, “đặt hàng” cụ thể về kỹ năng, công nghệ, tiêu chuẩn mà họ cần. Nhà trường phải đổi mới chương trình, đầu tư thiết bị hiện đại, tăng thời lượng thực hành. Mô hình đào tạo kép, mô hình sinh viên vừa học vừa thực tập dài hạn tại doanh nghiệp được xem là hướng đi phù hợp. Nhà nước giữ vai trò “nhạc trưởng”, thông qua các chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho đào tạo, miễn giảm thuế, hỗ trợ kinh phí cho các chương trình hợp tác đào tạo.
Trong bối cảnh chuyển đổi xanh và số hóa, yêu cầu đối với nhân lực công nghiệp hỗ trợ không chỉ dừng ở tay nghề kỹ thuật. Người lao động còn phải am hiểu công nghệ số, tự động hóa, AI, cũng như các tiêu chuẩn sản xuất xanh, ESG, EPR. Một số trường đại học đã bắt đầu hợp tác với các “ông lớn” như Samsung, Toyota để tổ chức đào tạo, thực hành ngay trong nhà máy.
Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đang đứng trước cơ hội phát triển nhưng cũng đối mặt với thách thức không nhỏ. Đầu tư vào nhân lực không cho kết quả tức thì, mà là một hành trình dài, đòi hỏi sự kiên nhẫn và tầm nhìn. Chỉ khi coi con người là “điểm tựa mềm” nhưng bền vững, công nghiệp hỗ trợ mới có thể thực sự trở thành xương sống của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và là bệ phóng để Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Cả nước hiện có khoảng 2.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này, song chỉ chưa tới 300 doanh nghiệp tham gia được chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia. Một trong những nguyên nhân cốt lõi là thiếu lao động kỹ thuật cao.

