• Longform: Giáo dục nghề nghiệp: Định hình chiến lược nguồn nhân lực quốc gia: Kỳ 3
  • Longform: Giáo dục nghề nghiệp: Định hình chiến lược nguồn nhân lực: Kỳ 2
  • Longform | Giáo dục nghề nghiệp: Định hình chiến lược nguồn nhân lực quốc gia: Kỳ 1

Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nguồn nhân lực được coi là một trong những trụ cột quyết định năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy cung cầu lao động qua đào tạo vẫn đang tồn tại độ vênh lớn, đặc biệt trong các lĩnh vực thế mạnh của ngành Công Thương. Không chỉ thiếu về số lượng, bài toán nhân lực còn đặt ra yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, kỹ năng và khả năng thích ứng.

Trao đổi với Báo Công Thương, TS. Phạm Vũ Quốc Bình, Phó Cục trưởng Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên (Bộ GD&ĐT) phân tích thẳng thắn những “điểm nghẽn” của đào tạo nghề hiện nay, đồng thời chỉ ra những yêu cầu mang tính nền tảng để giáo dục nghề nghiệp thực sự trở thành bệ đỡ cho phát triển kinh tế.

margin: 15px auto;" />

TS. Phạm Vũ Quốc Bình, Phó Cục trưởng Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên (Bộ GD&ĐT)

- Thưa ông, từ góc độ quản lý nhà nước, ông đánh giá thế nào về thực trạng đào tạo nghề và cơ hội việc làm trong các lĩnh vực thế mạnh của ngành Công Thương hiện nay?

TS Phạm Vũ Quốc Bình: Chúng ta luôn nhấn mạnh vai trò của giáo dục nghề nghiệp, nhưng nếu nhìn thẳng vào thực tế thì tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ hiện nay mới chỉ đạt khoảng 28%, bao gồm cả các trình độ của giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Con số này cho thấy khoảng trống rất lớn giữa yêu cầu của một nền kinh tế đang công nghiệp hóa, hướng tới phát triển nhanh và bền vững, với thực trạng chất lượng nguồn nhân lực hiện có.

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, thậm chí hướng tới những mục tiêu tăng trưởng cao hơn, vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao trở nên đặc biệt quan trọng. Ngành Công Thương là một lĩnh vực có phạm vi bao phủ rất rộng, gần như hiện diện trong toàn bộ cấu trúc của nền kinh tế, từ công nghiệp phụ trợ, sản xuất, thương mại truyền thống đến các ngành kinh tế kỹ năng mới, các lĩnh vực kinh tế của tương lai. Chính vì vậy, có thể khẳng định nhu cầu nhân lực qua đào tạo trong ngành Công Thương là rất lớn và sẽ còn tiếp tục gia tăng trong thời gian tới.

- Thực tế cho thấy ở nhiều tỉnh phía Bắc, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, học sinh vẫn gặp khó trong việc tiếp cận giáo dục nghề nghiệp. Theo ông, đâu là nguyên nhân cốt lõi của tình trạng này?

TS Phạm Vũ Quốc Bình: Đối với khu vực vùng sâu, vùng xa, đây là nhóm đối tượng vừa có nhiều tiềm năng, nhưng cũng đang chịu nhiều rào cản. Trước hết là điều kiện kinh tế, tiếp đến là vấn đề nhận thức. Một bộ phận người dân vẫn chưa nhìn nhận đầy đủ vai trò của học tập và phát triển nghề nghiệp lâu dài. Nhiều gia đình, nhiều học sinh có xu hướng lựa chọn giải pháp ngắn hạn, ưu tiên việc làm trước mắt để có thu nhập ngay, thay vì đầu tư cho học nghề bài bản.

Nguyên nhân thứ hai, và cũng rất quan trọng, là việc các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chưa tiếp cận được người dân một cách đầy đủ và hiệu quả. Công tác truyền thông, tư vấn hướng nghiệp tại nhiều địa phương còn mờ nhạt, thiếu các kênh tiếp cận cụ thể, thiếu những hình ảnh, giá trị và thông điệp đủ mạnh để tác động tổng thể tới nhận thức của gia đình và học sinh. Đây chính là “điểm nghẽn” khiến nhiều học sinh ở vùng sâu, vùng xa chưa chạm được tới cơ hội học nghề, dù nhu cầu lao động của xã hội là rất lớn.

Tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp trong khi nhu cầu nhân lực tăng nhanh đang đặt giáo dục nghề nghiệp trước yêu cầu đổi mới căn cơ, từ nhận thức đến chất lượng đào tạo.

- Với đặc thù là ngành bao phủ nhiều lĩnh vực của nền kinh tế, theo ông những ngành nghề nào của ngành Công Thương có khả năng thu hút người học mạnh mẽ hơn trong thời gian tới?

TS Phạm Vũ Quốc Bình: Ngành Công Thương có một lợi thế rất rõ là nhu cầu lao động trải rộng trên nhiều trình độ khác nhau, từ lao động phổ thông, lao động có kỹ năng trung bình, cho tới lao động kỹ năng cao và trình độ cao. Điều này mở ra nhiều hướng đi nghề nghiệp khác nhau cho người học, phù hợp với điều kiện, năng lực và hoàn cảnh cụ thể của từng nhóm đối tượng.

Với những học sinh có mong muốn dịch chuyển lao động, các ngành nghề mới như công nghệ thông tin, logistics, thương mại hiện đại đang mở ra nhiều cơ hội và được Nhà nước quan tâm hỗ trợ. Trong khi đó, với những người mong muốn gắn bó tại địa phương, các ngành công nghiệp phụ trợ, các lĩnh vực gắn với sản xuất và dịch vụ tại chỗ cũng có nhu cầu nhân lực rất lớn. Vấn đề then chốt vẫn là làm sao truyền thông được một cách toàn diện, giúp người dân hiểu rõ các lựa chọn nghề nghiệp và con đường phát triển phù hợp với điều kiện của mình.

- Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, theo ông đâu là giải pháp căn cơ để các trường nghề nâng cao uy tín, thu hút người học và gắn kết hiệu quả hơn với doanh nghiệp?

TS Phạm Vũ Quốc Bình: Theo tôi, có hai trụ cột mang tính nền tảng: nhận thức và chất lượng.Về nhận thức, xã hội cần nhìn nhận đúng giá trị của nghề nghiệp. Bất kỳ nghề nào, nếu được làm bằng sự đam mê và trách nhiệm, đều đáng trân trọng. Giáo dục nghề nghiệp không chỉ tạo ra những người lao động có kỹ năng, mà còn có thể hình thành những “nghệ nhân” trong từng lĩnh vực. Nhận thức này phải được xây dựng từ sớm, ngay từ công tác hướng nghiệp, với sự đồng hành của gia đình, nhà trường và xã hội.

Về chất lượng, chúng tôi đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó có việc sửa đổi các luật liên quan đến giáo dục, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học theo hướng cắt giảm thủ tục hành chính, tăng quyền tự chủ cho các cơ sở đào tạo, đồng thời xây dựng hệ thống học tập suốt đời, liên thông và mở. Tuy nhiên, chất lượng ở đây không chỉ là chương trình đào tạo hay đầu ra việc làm, mà là văn hóa chất lượng, mức độ hài lòng của doanh nghiệp, của người học, cách nhà trường phục vụ và đồng hành với học sinh, sinh viên trong suốt quá trình học tập và cả sau khi ra trường.

Một điểm rất quan trọng nữa là truyền thông không chỉ hướng tới học sinh phổ thông, mà cần dành dung lượng lớn cho lực lượng lao động hiện hữu, nhóm đang có nhu cầu đào tạo lại, đào tạo nâng cao kỹ năng rất lớn. Nếu các trường tiếp cận tốt nhóm đối tượng này, đây sẽ là nguồn tuyển sinh bền vững và có hiệu quả cao, cả về kinh tế lẫn chất lượng đào tạo.

- Xin cảm ơn ông!

TS Phạm Vũ Quốc Bình nhấn mạnh: "Tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ hiện mới khoảng 28%, trong khi nhu cầu nhân lực cho một nền kinh tế công nghiệp hóa là rất lớn. Giáo dục nghề nghiệp vì thế phải thay đổi từ nhận thức đến chất lượng".

Ngọc Hoa